VKSND là một cơ quan thực thi quyền lực tư pháp trong Bộ máy Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ “Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”, được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức VKSND năm 2002 ghi nhận và được quy định cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật khác có liên quan.
Trong quá trình giải quyết đối với các
vụ án hình sự, chức năng, nhiệm vụ của VKSND được thể hiện rõ trong các giai
đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Tuy nhiên, cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của
VKSND trong các giai đoạn này như thế nào thì không phải ai cũng có thể nắm rõ
được, thậm chí một số cán bộ trong ngành KSND cũng chưa phân biệt rõ được những
thao tác nghiệp vụ nào thuộc về chức năng THQCT, những thao tác nghiệp vụ nào
thuộc về chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp trong qua trình giải quyết vụ án
hình sự. Do đó, để nắm vững được vấn đề này nhằm giúp cho việc nhận thức và vận
dụng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Ngành; đảm bảo việc việc giải quyết
vụ án hình sự đúng quy định của pháp luật, VKSND huyện Cẩm Mỹ nêu ra một số nội
dung như sau:
Thứ nhất: THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, truy tố
vụ án hình sự:
* Căn cứ pháp lý: Điều 12, 13, 14 Luật Tổ chức VKSND
năm 2002; Điều 23, 112, 113 BLTTHS; TTLT số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP và Quy
chế Kiểm sát điều tra.
* THQCT
trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là việc Viện kiểm sát (VKS) sử
dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung THQCT để truy cứu trách
nhiệm hình sự (TNHS) đối với người phạm tội trong giai đoạn điều tra, truy tố.
Đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không bỏ
lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi
THQCT trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự gồm:
- VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự, quyết dịnh khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan Cảnh sát điều tra (CQĐT) khởi tố
hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, cụ thể:
VKS ra quyết định khởi tố vụ án hình
sự trong trường hợp VKS hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của CQĐT, của các
cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trong
trường hợp Hội đồng xét xử (HĐXX) yêu cầu khởi tố vụ án (khoản 1 Điều 104
BLTTHS);
VKS ra quyết định khởi tố bị can nếu
sau khi nhận hồ sơ và bản kết luận điều tra mà VKS phát hiện có người khác đã
thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án những chưa bị khởi tố (khoản 5 Điều 126
BLTTHS);
VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định thay
đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự nếu có căn cứ xác định tội
phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm
khác. Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố vụ án và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra;
VKS yêu cầu CQĐT ra quyết định thay
đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can nếu có căn cứ xác định hành vi phạm
tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn có hành vi phạm tội
khác. Nếu CQĐT không thực hiện thì VKS trực tiếp ra quyết định thay đổi hoặc bổ
sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho CQĐT để tiến hành điều tra;
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu
CQĐT tiến hành điều tra khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt
động điều tra theo quy định của pháp luật, cụ thể:
Kiểm sát viên (KSV) được phân công
THQCT và kiểm sát điều tra vụ án có thể trực tiếp đề ra yêu cầu điều tra bằng
lời trong quá trình kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi,
khám xét, hỏi cung bị can, lấy lời khai, đối chất, thực nghiệm điều tra. Đối
với những trường hợp khác, việc yêu cầu điều tra phải bằng văn bản và nêu rõ những
vấn đề cần điều tra;
Khi xét thấy cần thiết, VKS có thể
trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như: hỏi cung bị can; lấy lời
khai người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án; đối chất; thực nghiệm điều tra. (khoản
2 Điều 112 BLTTHS, TTLT số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP).
- Yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi
Điều tra viên (ĐTV) thoe quy định của pháp luật; nếu hành vi của ĐTV có dấu
hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự, cụ thể:
Khi phát hiện ĐTV thuộc một trong các
trường hợp bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng, KSV có quyền đề
nghị Viện trưởng VKS cấp mình xem xét để yêu cầu Thủ trưởng CQĐT thay đổi ĐTV.
Nếu phát hiện thấy hành vi của ĐTV có dấu hiệu tội phạm thì đề nghị khởi tố về
hình sự.
- VKS quyết định áp dụng, thay đổi
hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác;
quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của CQĐT theo
quy định của pháp luật, cụ thể:
Khi có căn cứ và xét thấy cần thiết,
VKS có quyền quyết định áp dụng một trong số các biện pháp ngăn chặn như: bắt
bị can để tạm giam, ra lệnh tạm giam, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh,
đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm;
VKS ra quyết định hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn khi thấy không còn cần thiết hoặc có thể thay thế bằng biện pháp ngăn
chặn khác, đối với những biện pháp do VKS quyết định áp dụng hoặc phê chuẩn;
Đối với các trường hợp phải có sự phê
chuẩn, khi nhận được công văn đề nghị và các tài liệu kèm theo, VKS nghiên cứu,
xem xét một cách khách quan, toàn diện, xác định tính có căn cứ, tính hợp pháp
để ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn các quyết định của
CQĐT. Trường hợp ra quyết định không phê chuẩn thì trong quyết định phải nêu rõ
lý do.
- VKS hủy bổ các quyết định không có
căn cứ và trái pháp luật của CQĐT, như quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết
định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm giữ người, quyết định đình chỉ
điều tra,… khi quyết định này không có căn cứ và trái pháp luật.
- VKS có quyền yêu cầu CQĐT truy nã bị
can khi bị can trốn hoặc không biết bị can đang ở đâu.
- VKS quyết định việc truy tố bị can,
quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra vụ án, bị can.
* Kiểm
sát điều tra các vụ án hình sự là hoạt động của VKSND kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát
sinh trong giai đoạn điều tra, nhằm đảm bảo cho quá trình điều tra vụ án được
thưc hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ, quyền hạn của CKSND khi kiểm
sát điều tra vụ án hình sự gồm:
- Kiểm sát việc khởi tố, kiểm sát các
hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT, cụ thể:
Kiểm sát việc khởi tố: là kiểm sát
tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết
định khởi tố bị can, kiểm sát việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án,
quyết định khởi tố bị can của CQĐT;
Kiểm sát các hoạt động điều tra do
CQĐT tiến hành như: khám nghiệm hiện trường; khám nghiệm tử thi; hỏi cung bị
can; lấy lời khai người làm chứng, người bị hại; thực nghiệm điều tra, nhận
dạng; đối chất; khám xét, kê biên, tạm giữ tài sản; kiểm sát việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn và các hoạt động khác của CQĐT có liên quan đến quá trình
giải quyết vụ án, đảm bảo cho hoạt động này được thực hiện đúng quy định pháp
luật;
Kiểm sát việc lập hồ sơ vụ án của CQĐT:
là kiểm sát việc ĐTV lưu trữ tài liệu, chứng cứ, đánh số bút lục và sắp xếp hồ
sơ vụ án có đầy đủ, đúng quy định pháp luật hay không.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của người tham gia tố tụng;
- Giải quyết các tranh chấp về thẩm
quyền điều tra.
Thứ hai: THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự:
* Căn cứ pháp lý: BLTTHS, Luật Tổ chức
VKSND năm 2002, Quy chế Kiểm sát xét xử.
*
THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự: là việc VKS sử dụng tổng hợp
các quyền năng pháp lý thuộc nội dung THQCT để truy cứu TNHS đối với người phạm
tội trong giai đoạn xét xử, nhằm bảo đảm người phạm tội phải bị xử lý nghiêm
minh, đúng quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi
THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, gồm:
- Đọc cáo trạng và trình bày ý kiến bổ
sung (nếu có); quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án tại
phiên tòa, cụ thể:
Sau khi kết thúc phần thủ tục bắt đầu
phiên tòa và bước sang phần thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, KSV đại diện VKSND
đọc bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung (nếu có);
Cáo trạng là văn bản pháp lý mang tính
quyền lực Nhà nước – quyền công tố do VKS lập để truy tố người phạm tội ra
trước Tòa án để xét xử, thể hiện quan điểm của VKS đối với tội phạm và người
phạm tội trong vụ án.
- Tham gia xét hỏi tại phiên tòa: KSV
tham gia xét hỏi sau khi Chủ tọa phiên tòa và các Hội thẩm nhân dân đã hỏi xong.
Trong khi xét hỏi, KSV có thể hỏi bất kỳ ai nếu thấy cần thiết.
Việc tham gia xét hỏi của KSV nhằm làm
rõ những cơ sở pháp lý cũng như những căn cứ thực tế của việc truy tố, phát
hiện ra những hạn chế, thiếu sót trong quan điểm truy tố của VKS để có biện
pháp khắc phục kịp thời, đòng thời bảo vệ quan điểm của VKS, làm cơ sở cho HĐXX
có thông tin để ra bản án, quyết định có căn cứ, hợp pháp, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
- Thực hiện việc luận tội đối với bị
cáo tại phiên tòa: sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, KSV trình bày
lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo
trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút
toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không phạm tội;
Luận tội của KSV phải căn cứ vào những
tài liêu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên tòa và ý kiến tranh luận của bị
cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham
gia tố tụng khác tại phiên tòa.
- KSV tranh luận với bị cáo, với người
bào chưa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa: trong tranh luận,
KSV phải có bảo vệ quan điểm truy tố của VKS. KSV phải có nghĩa vụ đáp lại tất
cả các ý kiến, yêu cầu có liên quan đến vụ án mà người bào chữa và những người
tham gia tố tụng khác đưa ra.
- Sau khi kết thúc phiên tòa, VKS có
quyền yêu cầu Tòa án cùng cấp và cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án để xem xét, quyết
định việc kháng nghị.
*
Kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự: là hoạt
động của VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX, thư ký phiên tòa và
các chủ thể khác tham gia tố tụng tại phiên tòa.
Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi kiểm
sát xét xử vụ án hình sự, gồm:
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong hoạt động xét xử của Tòa án, cụ thể: với tư cách là đại diện VKSND tham
gia phiên tòa, KSV có quyền kiểm sát việc thực hiện, áp dụng các quy định pháp
luật về hình sự, tố tụng hình sự của HĐXX, thư ký ghi biên bản phiên tòa; có
quyền đề nghị thay đổi thành phần những người tiến hành tố tụng theo quy định
của pháp luật.
- Kiểm sát việc tuân theo pháp luật
của những người tham gia tố tụng, cụ thể: KSV tham gia phiên tòa có quyền kiểm
sát việc tham gia tố tụng của những người tham gia tố tụng; có quyền đưa ra
những yêu cầu để đảm bảo cho việc xét xử của Tòa án đúng trình tự, thủ tục pháp
luật quy định, trong đó có quyền đề nghị triệu tập thêm người làm chứng, đưa
thêm vật chứng ra để xem xét.
Ngoài ra, theo quy định của BLTTHS và
Pháp lệnh Kiểm sát viên, VKSND còn có những nhiệm vụ, quyền hạn kiểm sát: việc
giải quyết khiếu nại, tố cáo với bản án, quyết định của Tòa án trong giai đoạn
xét xử vụ án hình sự; kiến nghị với Tòa án khắc phục các vi phạm trong xét xử./.