Trong 3 năm (2010-2012) tình hình tội phạm hình sự trên địa bàn tỉnh Đồng Nai vẫn diễn biến phức tạp với thủ đoạn phạm tội ngày càng tinh vi, trong đó loại án Giết người và Cố ý gây thương tích xảy ra khá nhiều với phương thức phạm tội rất khác nhau đang có chiều hướng gia tăng có tính chất mức độ, hậu quả ngày càng nghiêm trọng.
Dù đã có nhiều hướng dẫn giải quyết hai tội
phạm này như Nghị quyết 01/NQ ngày 19/4/1989, số 04/NQ ngày 29/11/1996 của Hội
đồng thẩm phán (HĐTP) và Công văn số 03/CV ngày 22/10/1987, số 140/CV ngày 11/12/1998
của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) nhưng vẫn chưa đáp ứng hết những yêu cầu
cụ thể, riêng biệt để áp dụng thống nhất giữa các cơ quan tiến hành tố tụng khi
cùng một hành vi nhưng định tội danh khác nhau bởi mặt khách quan của tội Giết
người và tội Cố ý gây thương tích khá giống nhau, dẫn đến cấp phúc thẩm phải
sửa, hủy nhiều vụ án sơ thẩm xét xử không đúng trong những năm vừa qua. Tòa án
nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm 216 vụ 488 bc phạm tội Giết người và 22
vụ 26 bc phạm tội Cố ý gây thương tích; xét xử phúc thẩm 1033 vụ 1299 bc và đã
sửa án sơ thẩm 303 vụ 451 bc, trong đó có 90 vụ 148 bc phạm tội Cố ý gây thương
tích (chiếm 29,7% án sửa); hủy án sơ thẩm để xét xử lại 17 vụ 23 bc, trong đó
có 4 vụ 4 bc (23,52 %) phạm tội Cố ý gây thương tích. Nguyên nhân dẫn đến việc
phải sửa, hủy án sơ thẩm là do phát sinh tình tiết mới ở cấp phúc thẩm mà sơ
thẩm không thu thập; do sơ thẩm có sai sót chủ quan trong định tội danh; do phúc
thẩm đánh giá lại giá trị các tình tiết sơ thẩm đã áp dụng
nhưng chưa được xem xét hết giá trị, ý nghĩa để quyết định hình phạt thỏa đáng….Điển
hình như:
1) Vụ Nguyễn Văn Sửu bị Tòa án huyện
Vĩnh Cửu áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự xử phạt 10 năm tù về tội Cố ý
gây thương tích vào ngày 07/5/2010, đã bị Viện trưởng Viện kiểm sát ND tỉnh
Đồng Nai kháng nghị phúc thẩm đề nghị hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cấp tỉnh
xử lý vì hành vi của bị cáo có dấu hiệu phạm tội Giết người. Kháng nghị được
Tòa án chấp nhận do hành vi phạm tội của bị cáo có sự tính toán dự mưu, chuẩn
bị hung khí từ trước, phục chờ đến lúc người bị hại chỉ còn 1 mình trên đường
về trong đêm tối dùng dao phay bất ngờ tấn công, chém liên tiếp vào vùng đầu là
nơi hiểm yếu trên cơ thể, có nguy cơ dẫn đến tử vong; khi nạn nhân vùng vẫy chạy
thoát thì bị cáo đuổi theo, chém tiếp nhiều nhát cho đến khi nạn nhân gục xuống
rồi bỏ trốn. Hành vi đó thể hiện sự truy sát quyết liệt, cố tình thực hiện tội
phạm đến cùng; ý thức muốn tước đoạt sinh mạng của người bị hại; không tử vong
do được cấp cứu kịp thời là ngoài mong muốn của bị cáo nên đã cấu thành tội
Giết người theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự.
2) Vụ Vũ Hoàng Lâm phạm tội Cố ý gây thương tích. Ông
Nguyễn Văn Đang (Việt kiều) về thăm quê ở huyện Xuân Lộc, trên đường đi mời
khách dự đám cưới em trai, bị Vũ Hoàng Sơn ném đá, chửi mắng. Ông dừng xe thì
Sơn bỏ chạy vào nhà, nhưng nhiều người thân của Sơn xông ra, trong đó có Vũ
Hoàng Lâm cầm một con dao lớn chém ông một nhát vào mặt; ông Đang bỏ chạy thì
bị Lâm chém tiếp vào đầu, ông đưa hai tay lên đỡ nên trúng vào tay nhiều nhát,
chảy máu ướt đẫm cả quần áo. Ông cố gượng bỏ chạy, Lâm truy đuổi chém thêm hai
nhát vào lưng thì có nhiều người can thiệp Lâm mới dừng việc tấn công. Hội đồng
giám định pháp y tỉnh kết luận ông Đang bị thương tích với tỷ lệ thương tật
58%. Công an và VKS tỉnh điều tra, truy tố tội Giết người, nhưng khi xét xử sơ
thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai cho rằng hành vi của Lâm chỉ là Cố ý gây
thương tích và phạt 10 năm tù. Ông Đang kháng cáo và Viện thực hành quyền công
tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại TP.HCM cùng đề nghị xác định tội Giết
người, nhưng Tòa án không chấp nhận và tuyên giữ nguyên án sơ thẩm.
3) Vụ Phạm Văn Hùng do có mâu thuẫn
trước đã dùng dao đâm một nhát vào bụng Phan Thành Nhơn (tỷ lệ thương tật 55%).
Bản giám định số 51/GĐPY/2012 ngày 18/01/2012 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng
Nai xác định Nhơn có vết thương bụng trái cách rốn 5cm có kích thước 5cm, làm
lòi ruột non, ruột già; dạ dày thủng 4 lỗ, thủng gan phân hủy IV 2 cm. Ngày 30/3/2012
Công an huyện Vĩnh Cửu khởi tố vụ án và bị can về tội Cố ý gây thương tích,
nhưng ngày 27/4/2012 VKS huyện quyết định thay đổi thành tội Giết người và yêu
cầu chuyển tỉnh xử lý theo thẩm quyền. Ngày 25/7/2012 Viện kiểm sát tỉnh nhận
định sau khi bị đâm người bị hại bỏ chạy, Hùng không đuổi theo đã thể hiện tính
không quyết liệt, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng và không nhằm mục đích giết
người nên quyết định thay đổi lại thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định
tại Điều 104 BLHS và chuyển trả lại cho huyện. Sau đó vào ngày 04/9/2012 Tòa án
huyện đã xét xử bị cáo về tội Cố ý gây thương tích với hình phạt 3 năm 6 tháng
tù và án đã có hiệu lực thi hành.
4) Vụ Nguyễn Dũng Lel phạm tội Cố ý
gây thương tích. Khoảng 7giờ ngày 10/6/2009 Nguyễn Dũng Lel là công nhân
của doanh nghiệp tư nhân Đức Tân thuộc huyện Vĩnh Cửu, đang quét sơn lên các
thanh gỗ thành phẩm thì Tổ phó Nguyễn Doãn Mới đến kiểm tra thấy chưa đạt yêu cầu
nên quát mắng dẫn đến việc hai bên mâu thuẫn nhau. Khi anh Mới tiếp tục đến kiểm
tra cách đó khoảng 2 mét thì Dũng Lel nhặt một cây gỗ thành phẩm, kích thước
89cm x10cm x2,5cm đến phía sau lưng anh
Mới, dùng hai tay cầm khúc cây gỗ đánh mạnh một cái vào gáy anh Mới làm anh ngã
xuống bất tỉnh rồi bỏ đi. Anh Mới được đưa đi cấp cứu kịp thời với tỷ lệ thương tật tạm thời 67%. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 98/2009/HSST
ngày 27/10/2009 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu áp dụng khoản 3 Điều 104 Bộ
luật hình sự xử phạt Nguyễn Dũng Lel 5 năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Ngày 25/8/2010 Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Đồng Nai quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 1303/2010/KNGĐT-VKS
đề nghị hủy bản án sơ thẩm trên với lý do bị co đã sử dụng hung khí nguy hiểm đánh
mạnh từ phía sau vào vùng gáy là nơi hiểm yếu trên cơ thể con người, anh Mới bất
tỉnh, bị “Tụ máu dưới màng cứng đỉnh thái dương phải; Dập xuất huyết thái dương
phải, tụ máu ngoài màng cứng thái dương trái, xuất huyết khoang dưới nhện, xuất
huyết liềm đại não, nứt xương đá trái” dẫn đến tình trạng buộc phải phẫu
thuật thái dương hai bên, mở sọ giải áp; khuyết sọ hai bên thái dương, kích thước
13cm, đáy mềm; tổn thương vùng trán trung tm thi dương bn cầu phải cĩ nhiều khả
năng dẫn đến chết người. Việc anh Mới
không chết là do được
sự cứu chữa kịp thời của cơ quan y tế nên hành vi của bị cáo có
dấu hiệu cấu thành tội Giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự. Ngày
27/01/2011 Tịa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm
đối với bị cáo Nguyễn Dũng Lel và quyết định không chấp nhận kháng nghị, tuyên
giữ y bản án sơ thẩm.
Việc
định tội khác nhau là do nhận thức pháp luật. Mặt khách quan của 2 tội giống
nhau nhưng khách thể của tội Giết người là xâm hại tới quyền được sống, còn tội
Cố ý gây thương tích xâm hại đến sức khỏe; hành vi của tội Giết người biểu hiện
ra bên ngoài có sự điều khiển của ý chí và hành vi đó có khả năng làm chết người
khác, còn Cố ý gây thương tích tuy cũng có dấu hiệu trên nhưng nằm ngoài ý chí
của người thực hiện. Mặt chủ quan của hai tội cũng giống nhau ở chỗ hành vi
được thực hiện một cách cố ý, người phạm tội ý thức được tính chất nguy hiểm
của hành vi, thấy trước và mong muốn hậu quả sẽ xảy ra. Hậu quả của tội Cố ý
gây thương tích là thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe nạn nhân (có thể kể cả
hậu quả dẫn đến chết người), còn với tội Giết người là sự tử vong hoặc có thể
dẫn đến chết người. Muốn xác định được ý chí của người thực hiện hành vi dùng
hung khí đánh vào vùng trọng yếu trên cơ thể như đầu, cổ, bụng… làm nạn nhân bị
thương tích để xử tội danh Giết người hay Cố ý gây thương tích thì phải đánh
giá toàn diện về tính chất nguy hiểm của hành vi, về phương thức thực hiện,
hung khí và phải xem thái độ người thực hiện có quyết liệt hay không, mâu thuẫn
do bộc phát nhất thời hay từ trước… Tổng hợp tất cả những điều này lại nếu
chứng minh được có ý chí tước đoạt mạng sống của nạn nhân thì mới có thể xử tội
Giết người, còn khi không xác định được ý chí của người thực hiện hành vi có
muốn tước đoạt tính mạng của nạn nhân hay không thì hậu quả đến đâu xử đến đó.
Ngoài ra còn phải xem xét thêm các tình tiết khác như trình độ nhận thức, tuổi
tác của người phạm tội và nạn nhân, tính tình thường ngày, quan hệ giữa họ...
Theo quan điểm của nhiều Kiểm sát viên có
kinh nghiệm của VKSND tỉnh Đồng Nai thì phải đánh giá nhiều tình tiết mới xác
định ý thức chủ quan, động cơ, mục đích của người phạm tội. Nếu người phạm tội
cố ý đối với hành vi gây thương tích và cố ý đối với hậu quả chết người (mong
muốn hoặc để mặc cho nạn nhân chết) thì phạm tội Giết người dù nạn nhân có chết
hay không; nếu người phạm tội cố ý đối với hành vi gây thương tích nhưng vô ý
(cẩu thả hoặc quá tự tin) đối với hậu quả chết người thì chỉ cấu thành tội Cố ý
gây thương tích; còn trong trường hợp người phạm tội vô ý với hành vi gây
thương tích và cả hậu quả chết người thì xử tội vô ý làm chết người. Trong nhiều trường hợp, việc chứng minh ý
thức chủ quan của người phạm tội muốn tước đoạt tính mạng của người khác để
buộc tội Giết người là hết sức khó khăn, phức tạp, đặc biệt đối với trường hợp
phạm tội chưa đạt, tỉ lệ thương tật của nạn nhân không cao. Xác định tội
Giết người khi người phạm tội biết hành vi của mình tất yếu làm nạn nhân chết
mà vẫn thực hiện dù không muốn giết; vì muốn cho người khác chết nên cố ý đánh
cho thành thương nặng để rồi về nhà bệnh chết; biết làm như vậy sẽ chết người
(như dùng dao to, sắc, nhọn, chém hoặc đâm vào những chỗ hiểm yếu như đầu,
ngực, bụng, hoặc dùng gậy to, nặng, sắc cạnh đánh mạnh vào đầu…); còn tội Cố ý
gây thương tích khi hành vi ít nguy hiểm, ít khả năng gây chết người (như chỉ
đánh, chém vào tay, chân, đấm vào chỗ ít nguy hiểm); có ý giết người nhưng tự ý
nửa chừng chấm dứt và nạn nhân chỉ bị thương tích; gây ra thương tích cho nạn
nhân với lỗi cố ý gián tiếp.
Xác định lỗi sai sẽ dẫn đến định tội sai, mà xác định sai tội Giết người
với tội Cố ý gây thương tích sẽ gây nhiều hệ lụy lớn vì bản án có thể bị hủy để
điều tra, xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm; quá trình giải
quyết án bị kéo dài làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người tham gia tố
tụng. Người có hành vi có thể bị tội nặng hơn hoặc lọt người, lọt tội; thậm chí
có trường hợp xác định là hành vi Giết người thì thủ phạm phải chịu trách nhiệm
hình sự nhưng nếu xác định là tội Cố ý gây thương tích thì có thể thoát tội vì có
trường hợp chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự (14 đến 16 tuổi không chịu
trách nhiệm hình sự khoản 1, khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự); trường hợp
chuyển từ tội Giết người sang tội Cố ý gây thương tích, nếu chỉ đủ cơ sở để xét
xử theo khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự thì chỉ được khởi tố theo yêu cầu của
người bị hại. Do đó đối với tội Giết
người và tội Cố ý gây thương tích cần được hướng dẫn chi tiết hơn nữa để giảm
thiểu sai sót khi xét xử.
Trong quá trình giải quyết 2 hành vi
phạm tội trên có những vướng mắc, khó khăn như:
- Việc xác định lỗi của những người có hành
vi xâm phạm đến thân thể của người khác có ý nghĩa rất quan trọng nhưng cũng
rất phức tạp bởi trong nhiều trường hợp hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe
người khác có biểu hiện khách quan tương tự nhau, việc phân biệt tội danh những
trường hợp này đòi hỏi phải xác định lỗi của người thực hiện hành vi.
Phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân. Vậy thế nào là
trái pháp luật nghiêm trọng? Hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân
phải trực tiếp với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội (cha,
mẹ, vợ, con, ông, bà, anh chị em ruột). Trong thực tiễn, có những trường hợp
mặc dù không phải là người thân thích, nhưng do thấy nạn nhân có hành vi trái
pháp luật nghiêm trọng với người khác (như đánh đập dã man trẻ em, phụ nữ,
người già yếu, tàn tật…) mà thực hiện hành vi phạm tội và không được coi là
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là không khuyến khích việc phòng chống
tội phạm.
Khoản 1 Điều 95 về tội Giết người trong
trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có mức hình phạt tù từ sáu tháng đến ba
năm; trong khi đó khoản 2 Điều 105 tội Cố ý gây thương tích trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh có hình phạt tù từ một năm đến năm năm là bất hợp
lý (dễ bị lợi dụng việc định tội danh) vì hành vi giết người nguy hiểm hơn so
với hành vi cố ý gây thương tích.
- Vụ án Cố ý gây thương tích (khoản 1 Điều 104 BLHS)
có nhiều người tham gia nhưng người bị hại chỉ bãi nại cho người chủ mưu nên
không thể khởi tố người này; nếu chỉ xử lý những người đồng phạm thực hành,
giúp sức thì không công bằng. Người có hành vi Cố ý gây thương tích có tỷ lệ
thương tật dưới 11% mà có một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm
k khoản 1 thì vẫn cấu thành tội phạm; nhưng không quy định mức tỷ lệ thương tật
tối thiểu là bao nhiêu % nên có trường hợp gây thương tích chỉ 1% sức khỏe (xây
sướt nhẹ) cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự là không thỏa đáng. Ngoài ra
việc xác định sự chống trả như thế nào là cần thiết trong tội Cố ý gây thương
tích do vượt quá phòng vệ chính đáng; phân biệt giữa tội Cố ý gây thương tích
dẫn đến chết người và tội Giết người dù đã có nhiều văn bản hướng dẫn nhưng
thực tế áp dụng vẫn xảy ra nhiều tranh cãi…
- Việc xử lý các hành vi Cố ý gây thương tích
chỉ được các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết khi có kết quả giám định tỷ
lệ thương tật của người bị hại nên thường bị kéo dài, do sau khi sự việc xảy ra
người bị hại còn lo tập trung điều trị, phục hồi sức khoẻ, chưa thể tiến hành
ngay được việc giám định. Mặt khác đối với trường hợp tỷ lệ thương tật qua giám
định dưới 11% (thuộc một trong các trường
hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự) thì khi người bị hại có đơn yêu cầu
khởi tố các cơ quan tiến hành tố tụng mới tiến hành giải quyết. Thực tế việc
người bị hại bị mua chuộc; bị đe dọa; do nễ nang, ngại va chạm mích lòng hàng
xóm, người thân nên không chịu đi giám định thương tích xảy ra khá nhiều, dẫn
đến những người có điều kiện, coi thường pháp luật dễ dàng chối bỏ trách nhiệm
hình sự, xâm phạm đến tính mạng sức khoẻ của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến
tình hình an ninh trật tự, tính nghiêm minh của pháp luật, làm giảm niềm tin
trong quần chúng nhân dân. Việc người bị hại không chịu đi giám định thương
tích (không có
lý do chính đáng) hiện
cũng chưa có quy định pháp luật về chế tài hay hướng dẫn của liên ngành trung
ương về trường hợp này, nên các cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó
khăn để giải quyết vụ án vì không có kết quả giám định. Mặc dù Thông tư liên
tịch số 12/TT-LB của Bộ Y tế, Bộ Lao động thương binh và xã hội ngày 26/07/1995
đã nêu rõ tỷ lệ phần trăm thương tích đối với từng trường hợp cụ thể, nhưng
trên thực tế việc áp dụng các quy định này để giải quyết hầu như không xảy ra
(các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ tiến hành giải quyết khi người bị hại có kết
quả giám định) cho dù các thương tích đó qua đối chiếu đã được phản ánh chính
xác tại Thông tư.
Từ những thực tế trên, xin đề xuất
những căn cứ phân định tội Giết người với tội Cố ý gây thương tích như sau:
- Xác định lỗi của người phạm tội: Để xác định được lỗi cần phải xác
định được người phạm tội có thấy trước hậu quả chết người hay không; nếu thấy
trước thì có mong muốn, chấp nhận hay đã loại trừ khả năng hậu quả này xảy ra.
Không thấy trước và không mong muốn hay chấp nhận hậu quả thì loại trừ khả năng
lỗi cố ý giết người, mà chỉ là lỗi cố ý đối với hành vi gây thương tích. Việc
xác định người phạm tội mong muốn hay chấp nhận hậu quả chết người xảy ra hay
có ý thức loại trừ khả năng hậu quả xảy ra chính là xác định thái độ chủ quan
của người phạm tội đối với hậu quả chết người đã thấy trước.
- Xác định
thái độ chủ quan: Những tình tiết chứng minh thái độ chủ quan
của người phạm tội đối với hậu quả chết người như có ý thức chấp nhận hậu quả
xảy ra hoặc không quan tâm đến hậu quả chết người, cụ thể như:
. Sự lựa chọn công cụ, phương tiện, phương pháp phạm tội và lựa chọn
cách thức sử dụng phương tiện: Đây là tình tiết chứng minh thái độ chủ quan của
người phạm tội đối với hậu quả chết người vì trong sự lựa chọn phương tiện,
phương pháp phạm tội và lựa chọn cách thức sử dụng phương tiện của người phạm
tội có thể có những biểu hiện phản ánh sự quan tâm, thái độ chủ quan đối với
hậu quả chết người.
. Diễn biến thái độ của người phạm tội trong quá trình thực hiện tội
phạm cũng chứng minh thái độ chủ quan của người phạm tội đối với hậu quả chết
người đã thấy trước vì nó phản ánh người phạm tội có hoặc không quan tâm
đến hậu quả chết người (như mục đích chính là cướp tài sản chứ không quan tâm
nạn nhân có chết hay không). Việc luôn theo dõi tình trạng của nạn nhân và khi
có biểu hiện nguy hiểm đến tính mạng thì người phạm tội có thể thay đổi cách
thức thực hiện hành vi theo hướng làm giảm bớt mức độ nguy hiểm như thay đổi vị
trí tác động, cường độ tác động, thậm chí có thể dừng lại hoặc có những hành
động nhằm cứu chữa cho nạn nhân; khi hậu quả chết người xảy ra thì người phạm
tội có thái độ hoảng hốt, thậm chí không còn quan tâm đến mục đích chính nữa
(như xiết cổ nạn nhân để đe dọa nhằm cướp tài sản, nhưng thấy nạn nhân có biểu
hiện nguy hiểm đến tính mạng thì nới lỏng tay, dừng lại hoặc thấy nạn nhân chết
thì bỏ chạy, không lấy tài sản nữa…). Người phạm tội thấy có biểu hiện hậu quả chết
người chưa xảy ra hoặc khả năng khó xảy ra thì có thể thực hiện hành vi với
cường độ quyết liệt, mạnh mẽ hơn hoặc thay đổi cách thức, phương tiện, phương
pháp phạm tội theo hướng làm tăng mức độ nguy hiểm của hành vi để thỏa mãn mục
đích gây hậu quả chết người (như bóp cổ để giết chết nạn nhân, nhưng nạn nhân
chưa chết thì dùng dao đâm cho đến khi nạn nhân chết); cũng có thể trong quá
trình thực hiện hành vi, người phạm tội chuyển thái độ chủ quan từ loại trừ
sang chấp nhận khả năng hậu quả chết người xảy ra (như bất ngờ phát hiện nạn
nhân là người quen, biết nên phải giết để bịt đầu mối).
. Biểu lộ cử chỉ và ngôn ngữ của người phạm tội trước, trong và sau khi
thực hiện tội phạm cũng cần nghiên cứu vì những biểu hiện trên và tâm lý bên
trong có liên quan với nhau, những suy nghĩ bên trong có thể được bộc lộ qua
biểu hiện bên ngoài, phản ánh sự quan tâm đối với hậu quả chết người đã thấy
trước, qua đó có thể chứng minh người phạm tội mong muốn hay chấp nhận hay có ý
thức loại trừ khả năng hậu quả chết người xảy ra (người chủ mưu có cử chỉ chặt
tay xuống hay cứa tay ngang cằm hoặc nói không muốn thấy người đó nữa thì người
thực hiện hiểu ngầm là phải giết như trong vụ án Năm Cam chỉ đạo đàn em giết
Dung Hà).
- Căn cứ hành vi khách quan: Khi không xác định rõ ý thức chủ quan của
bị cáo, nhưng hành vi khách quan thì thể hiện rõ không phải là chỉ cố ý gây
thương tích mà là cố ý tước đoạt sinh mạng của người khác thì là phạm tội Giết
người như dùng mã tấu, dao, súng nhằm vào những bộ phận quan trọng của cơ thể
người khác để chém, đấm, bắn thì cho dù hậu quả không dẫn tới chết người thì
cũng phạm tội Giết người vì khi sử dụng các hung khí, phương tiện nguy hiểm đó
buộc bị cáo phải nhận thức được có thể và tất yếu dẫn tới tước đoạt tính mạng
của người khác.
Sử
dụng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người (như ném lựu đạn vào chỗ
đông người, bắn súng vào chỗ đông người, đặt mìn, dùng xe ô tô lao vào chỗ đông
người, bỏ thuốc độc vào nguồn nước hoặc thức ăn v.v…) tuy không có chết người
nhưng cũng là tội Giết người vì hậu quả chết người hoàn toàn có thể xảy ra./.
Trưởng phòng 3
Dương Văn Tín