Thực tiễn công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình cho thấy: Kể từ khi Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, vai trò, vị trí của Viện kiểm sát trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình được nâng lên rõ rệt. Qua đó thể hiện sự tin tưởng của Đảng và Nhà nước đối với ngành kiểm sát nhân dân. Để đáp lại niềm tin yêu của Đảng và Nhà nước, mỗi cán bộ kiểm sát viên làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình phải thật sự nỗ lực, thật sự trách nhiệm và phải có bản lĩnh nghề nghiệp, dám làm dám chịu trách nhiệm.
Luật sửa đổi bổ sung một số điều Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2004 tiếp tục khẳng định: Kháng nghị là quyền năng, là biện
pháp pháp lý quan trọng và cần thiết để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, góp phần bảo đảm cho pháp
luật được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất. Nói cách khác quyết định kháng
nghị của Viện kiểm sát chính là một biện pháp pháp lý tác động đến hoạt động
xét xử của Tòa án, phản ánh chức năng kiểm sát, giám sát từ bên ngoài đến các
hoạt động của cơ quan Tòa án. Mục đích nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của các đương sự, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Thực
hiện nghiêm túc Chỉ thị số 04/CT-VKSTC-VPT1 ngày 17/5/2012 của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao về tăng cường công tác kháng nghị theo thủ tục phúc
thẩm dân sự, xác định công tác kháng nghị là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
của công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp. Nhận thức rõ tầm quan trọng và trách nhiệm
của Viện kiểm sát trong kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải
quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình nên ngay từ những ngày đầu khi Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực, Ban
lãnh đạo đơn vị đã triển khai quán triệt các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, của
Viện kiểm sát nhân dân Tối cao đến toàn thể cán bộ, kiểm sát viên. Trên cơ sở
kế hoạch của Viện kiểm sát tỉnh, đơn vị đã xây dựng kế hoạch và phân công cán
bộ, kiểm sát viên hợp lý làm công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân
sự, hôn nhân gia đình, kịp thời động viên khích lệ cán bộ, kiểm sát viên thực
hiện khâu công tác này. Vì vậy chất lượng khâu kiểm sát việc giải quyết các vụ
án dân sự, hôn nhân gia đình của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom trong
thời gian qua được nâng lên rõ rệt qua các năm. Cụ thể như trong năm 2011 đơn
vị ban hành được 04 quyết định kháng nghị, năm 2012 đơn vị ban hành được 07
quyết định kháng nghị, năm 2013 ban hành được 14 quyết định kháng nghị. Tất cả
các kháng nghị hầu hết đều đã được Tòa án cấp phúc thẩm xét xử chấp nhận kháng
nghị của Viện kiểm sát.
Những
biện pháp mà kiểm sát viên áp dụng trong nghiên cứu hồ sơ để phát hiện vi phạm
trong việc kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự:
Khoản
1 điều 8 mục 1 chương II của Quy chế công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ,
việc dân sự ( ban hành kèm theo Quyết định số 567/QĐ-VKSTC ngày 08/10/2012 của
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Tối cao quy định:
1)
Về nghiên cứu hồ sơ và lập hồ sơ kiểm sát:
a.
Khi nhận được hồ sơ vụ án do Tòa án nhân dân chuyển đến, cán bộ, kiểm sát viên
được phân công nghiên cứu hồ sơ trong thời hạn quy định tại khoản 2 điều 195 Bộ
luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải trực tiếp nghiên cứu
hồ sơ để nắm đầy đủ nội dung vụ án và các quy định pháp luật có liên quan.
b.
Cán bộ, kiểm sát viên phải lập hồ sơ kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân
sự theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân Tối cao, dự thảo đề cương xét hỏi,
chuẩn bị ý kiến phát biểu tại phiên tòa và báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo
Viện kiểm sát về kết qủa nghiên cứu hồ sơ vụ án và quan điểm giải quyết trước
khi tham gia phiên tòa.
Nghiên
cứu hồ sơ và lập hồ sơ kiểm sát là quy trình rất quan trọng để thực hiện chức
năng kiểm sát. Nếu chỉ nghiên cứu hồ sơ mà không lập hồ sơ kiểm sát thì chúng
ta không thể cập nhật để kiểm sát được đầy đủ các chứng cứ các đương sự giao
nộp cũng như không thể kiểm sát được đầy đủ thủ tục tố tụng của Tòa án. Nếu chỉ
lập hồ sơ mà không nghiên cứu thì khi tham gia phiên tòa sẽ không kịp thời xử
lý các tình huống diễn biến tại phiên tòa. Có nghiên cứu hồ sơ và lập hồ sơ đầy
đủ mới có thể có dự kiến đề cương xét hỏi sát với thực tế khách quan của vụ án,
mới có thể đề xuất quan điểm với lãnh đạo Viện cụ thể và chính xác.
Hồ
sơ vụ án dân sự bao gồm tòan bộ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứ liên quan đến
vụ án được sắp xếp theo một trật tự nhất định.
Nghiên
cứu hồ sơ là đọc, nghe, nhìn, ghi chép, đánh dấu những tài liệu quan trọng để
xem xét, tìm hiểu các thông tin, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để nắm
vững nội dung vụ án, trình tự thủ tục tố tụng mà thẩm phán đã tiến hành để giải
quyết vụ án đó.
Nghiên
cứu nội dung vụ án bắt đầu bằng đơn khởi kiện. Nghiên cứu kỹ đơn khởi kiện sẽ
cho kiểm sát viên biết phạm vi khởi kiện của nguyên đơn, thẩm quyền giải quyết
của Tòa án, quan hệ pháp luật tranh chấp, văn bản pháp luật cần áp dụng. Việc
nắm chắc đơn khởi kiện sẽ giúp cho kiểm sát viên biết thời hiệu khởi kiện còn
hay không, đương sự cần phải giao nộp những tài liệu chứng cứ nào, Tòa án cần
phải áp dụng những biện pháp nào để thu thập chứng cứ. Đối chiếu với đơn khởi
kiện và quyết định của Tòa án nếu thấy Tòa án giải quyết vượt quá yêu cầu khởi
kiện, giải quyết vụ án không đúng thẩm quyền hoặc xác định không đúng quan hệ
tranh chấp...đều là những căn cứ để Viện kiểm sát thực hiện quyền kháng nghị
phúc thẩm,
2)
Nghiên cứu tài liệu chứng cứ
trong vụ án dân sự
Điều
81 Bộ luật tố tụng dân sự quy định: Chứng cứ
“
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ
quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được theo trình
tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu
cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như
những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự”.
Như
vậy nguồn của chứng cứ bao gồm những tài liệu do đương sư, cơ quan, tổ chức
giao nộp hoặc do Tòa án thu thập theo trình tự, thủ tục quy định trong Bộ luật
tố tụng dân sự.
Những
tài liệu được coi là chứng cứ, có giá trị chứng minh khi nó mang thuộc tính của
chứng cứ: Đó là tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Nếu bất kỳ
một tài liệu nào thiếu đi một trong ba thuộc tính trên sẽ mất đi giá trị chứng
minh, không được coi là chứng cứ trong vụ án.
Khi
nghiên cứu tài liệu chứng cứ chúng ta nên so sánh đối chiếu tài liệu, đối chiếu
các bản tự khai của bị đơn, hay so sánh các lời khai của nhân chứng, so sánh
lời khai của nhân chứng với lời khai của nguyên đơn, bị đơn, so sánh các tài
liệu do nguyên đơn giao nộp với các tài liệu do bị đơn giao nộp để tìm ra các
điểm mâu thuẫn trong tài liệu chứng cứ, từ đó mới giúp chúng ta phân tích chứng
cứ để có cơ sở đánh giá khách quan về vụ án.
Nghiên
cứu đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ còn giúp kiểm sát viên nhận biết xem
Thẩm phán đã xác định đúng và đầy đủ tư cách những người tham gia tố tụng hay
không. Trên thực tế trong thời gian qua Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom
phát hiện rất nhiều vụ án thẩm phán đã bỏ sót tư cách đương sự, cụ thể không
đưa người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, hoặc có đưa vào
tham gia tố tụng nhưng không triệu tập, không cấp tống đạt đầy đủ các văn bản
tố tụng cho họ, không xác định xem họ có đầy đủ năng lực pháp luật tố tụng dân
sự và năng lực hành vi tố tụng dân sự hay không. Đây cũng là những căn cứ để
kháng nghị yêu cầu cấp phúc thẩm hủy án,
Trong
khi nghiên cứu hồ sơ vụ án kiểm sát viên không nên bỏ qua bất kỳ trình tự tố
tụng nào mà thẩm phán đã áp dụng để giải quyết vụ án. Thực tiễn trong hoạt động
kiểm sát nhận thấy Tòa án có thể có vi phạm ngay trong việc cấp, tống đạt các
văn bản tố tụng cho các đương sự, thủ tục định giá tài sản, trưng cầu đo vẽ
diện tích đất hay trong thủ tục hòa giải, đối chất giữa các đương sự...chỉ có
lập hồ sơ và nghiên cứu kỹ hồ sơ, dẫn chiếu được các điều luật cần áp dụng
chúng ta mới có thể phát hiện được vi phạm của Tòa án.
Kiểm
sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình là một khâu công tác
khó. Khi nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát viên cần kịp thời nhận diện những vi phạm
của tòa án để thực hiện quyền kháng nghị. Xin trao đổi cùng đồng nghiệp./.
Phạm
Thị Thu Hiền-KSV VKSNDH TRẢNG BOM