I. Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ điều tra bổ sung và căn cứ pháp lý:
1. Khái niệm về trả hồ sơ điều tra bổ sung:
Trả hồ sơ điều tra bổ sung là biện pháp tố tụng do Viện kiểm sát hoặc Tòa án được áp dung trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố sau khi đã kết luận điều tra vụ án, trước khi có cáo trạng. Luật không quy định về thời hạn để Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung trong thời hạn quyết định truy tố hay cả trong thời hạn gia hạn thời hạn truy tố. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung được thực hiện bằng quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát.
2. Căn cứ pháp luật:
Khỏan 2 Điều
121 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định “ trong trường hợp vụ án do Viện kiểm
sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra không quá hai tháng; nếu
do Tòa án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra không quá 01 tháng,
Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá
hai lần. Thời hạn điều tra được tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ
án và yêu cầu điều tra”.
Khỏan 1 Điều
166 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định trong thời hạn truy tố kể cả trong
thời hạn gian hạn quyết định truy tố, nếu có căn cứ quy định tại điều 169 của
Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Viện kiểm sát
ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan Cảnh sát điều tra khi
nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:
- Còn thiếu những
chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung
được ;
- Có căn cứ để
khởi tố bị can về một tội khác hoặc có
người đồng phạm khác.
- Có vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
Khoản 1 Điều
179 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những trường hợp thẩm phán ra quyết định
trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát gồm:
- Khi cần xem
xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án ,à không thể bổ sung tại phiên
tòa được.
- Khi có căn cứ
để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác.
- Khi phát hiện
có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Như vậy sau khi
nhận được hồ sơ vụ án được trả lại để điều tra bổ sung, cơ quan Cảnh sát điều
tra phải xem xét ngay việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các bị can. Theo
quy định tại điều 121 Bộ luật TTHS thì thời hạn tạm giam không được qáu thời
hạn điều tra bổ sung do Viện kiểm sát
hoặt Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung.
3. Các trường
hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung:
Căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA ngày
27/8/2010 của viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ
Công an hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ
sơ để điều tra bổ sung qui định các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung gồm:
- Khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:
- Khi còn thiếu hoặc còn thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát
không thể tự mình bổ sung được hoặc không thể bổ sung được tại phiên tòa.
- Khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một một tội khác hoăc có đồng phạm
khác.
- Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng
phạm khác.
Như vậy, quá
trình kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm thường
xuyên bám sát hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của điều tra viên, chủ động
đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra theo quy
định của pháp luật đảm bảo việc điều tra, thu thập chứng cứ vụ án đầy đủ, đúng
pháp luật, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong các giai đoạn tố tụng
hình sự.
II. Thực trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa
các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự huyện Thống Nhất từ năm 2011 đến năm
2013:
1 -Thực trạng:
Bộ luật tố tụng
hình sự và Thông tư liên tịch số
01/2010/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA ngày 27/8/2010 của viện kiểm sát nhân dân Tối
cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn thi hành các quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung qui định các trường
hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung. Nhưng trên thực tế cách hiểu và vận dụng
pháp luật trong vấn đề trả hồ điều tra bổ sung theo điều 168 BLTTHS là rất khác
nhau trong trương hợp thứ nhất: trả hồ sơ khi nhận thấy còn thiếu những chứng
cứ quan trọng đối với những vụ án mà viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung
được. Quy định này dễ cho chúng ta nhận thức trong vụ án có những chứng cứ quan
trọng, có những chứng cứ không quan trọng, hoặc có những chứng cứ quan trọng
hơn, chứng cứ ít quan trọng. Theo quy định của pháp luật về chứng cứ, mọi chứng cứ trong vụ án hình sự đều quan trọng
như nhau, các tình tiết thu được chỉ có giá trị chứng cứ khi nó phù hợp với các
chứng cứ khác. Ngay cả các tình tiết thu được từ lời nhận tội của bị can, hoặc
thu được từ bản kết luật giám định cũng không phải là chứng cứ quan trọng nhất
nếu nó không phù hợp với các chứng cứ khác. Vì vậy, cách hiểu chứng cứ quan
trọng ít nhiều đã ảnh hưởng đến việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
Nhiều hồ sơ bị
trả lại do hồ sơ còn thiếu những tài
liệu phản ánh về tình trạng tài sản của bị can nên không thể quyết định hình
phạt được (trong trường hợp bị can bị truy tố về tội phạm mà khung hình phạt có
quy định hình phạt tiền là hình phạt chính). Lý do cơ bản của hiện tượng
này là do những thay đổi của Bộ luật hình
sự năm 1999 về hình phạt tiền so với quy định
trong bộ luật hình sự năm 1985, khi quyết hình phạt tiền không cần quyết
định đến tình trạng tài sản của người bị kết án. Do vậy trong thực tiễn có
những bản án phạt tiền không thi hành được, nhiều trường hợp phạt tiền chỉ được
tuyên cho có, không có tính khả thi. Có cơ quan cho rằng cần phải xác minh tình
trạng tài sản, có cơ quan cho rằng đây không phải là chứng cứ quan trọng để
quyết định việc truy tố hay không có tội, tội phạm gì và theo điều khoản nào của
Bộ luật hình sự.
Ở một số Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố qua khảo sát cho thấy tình trạng trả hồ
sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã đến mức báo động. Có đơn vị nghiệp vụ
trong 06 tháng đầu năm đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra yêu cầu điều tra bổ
sung chiếm tỷ lệ 4% số án thụ lý. Đặc biệt còn để xẩy ra tình trạng án trả hồ
sơ điều tra bổ sung nhiều lần, có vụ án trả 02 lần thậm chí 03 lần, vi phạm
nghiêm trọng Luật tố tụng hình sự. Ngoài ra một số địa phương để kéo dài thời
hạn điều tra bổ sung dẫn đến quá hạn tạm giam hoặc kéo dài thời hạn truy tố.
Theo số liệu
tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất từ năm 2011 đến năm 2013 thì
tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung như sau:
*. Viện kiểm sát trả
hồ sơ điều tra bổ sung:
- Năm 2011: 03 vụ 04 vị can.
- Năm 2012: 01 vụ – 02 bị can.
- Năm 2013: 02 vụ – 04 bị can.
*. Tòa án trả hồ sơ
điều tra bổ sung:
- Năm 2011: 02 vụ – 05 bị cáo.
- Năm 2012: 01 vụ 02 bị cáo.
- Năm 2013: 01 vụ – 02 bị cáo.
2. Phân tích lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung:
* Trong 3 năm qua (2011-2013) Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung 04 vụ
– 09 bị cáo. Trong đó trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng cứ 03 vụ –04 bị
cáo, về khởi tổ bổ sung 01 vụ – 5 bị cáo.
Trong đó Tòa án trả đúng 03 vụ – 04 bị cáo. Viện kiểm sát đã điều tra
khởi tố bổ sung bị can 04 BC. Tòa án trả sai VKS giữa nguyên quan điểm truy tố
chuyển lại Tòa và tòa đã xét xử 01 vụ – 05 BC.
Ví dụ: -Vụ Nguyễn Ngọc Minh Tuấn cùng đồng bọn
can tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Toà án trả hồ sơ yêu
cầu xác định thẩm quyền xét xử của vụ án. Tòa án trả hồ sơ trong thời hạn
quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS.
Sau khi nghiên cứu, VKS xét thấy lý do trả hồ sơ
của Tòa là chưa đúng căn cứ luật định, nên VKS đã tổ chức họp liên ngành và
xin ý kiến thỉnh thị của VKSND tỉnh, sau đó có công văn giữ nguyên qua điểm
truy tố.
- Vụ Phạm
Vũ Nhật Linh can tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”,
Tòa án trả hồ sơ yêu cầu khởi tố bổ sung 01 bị can. Tòa án trả hồ sơ trong
thời hạn quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS. Sau khi nhận hồ sơ điều
tra bổ sung, VKS đã tổ chức họp liên ngành tố tụng hình sự huyện, do quan điểm
liên ngành không thống nhất nên VKSND huyện đã có Công văn xin ý kiến thỉnh thị
của VKSND tỉnh. Sau đó VKSND huyện đã trả hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện
để khởi tố bổ sung 01 bị can Phạm Ngọc Duy theo chỉ đạo của liên ngành tố
tụng tỉnh.
* VKSND huyện đã trả hồ sơ điều tra bổ sung cho
CQCSSĐT 06 vụ – 11 bị can. Trong đó trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng
cứ 01 vụ – 01 bị can, về có người đồng
phạm khác khởi tố bổ sung bị can 02 vụ – 04 bị can, nhập vụ án 01 vụ – 02 bị can, thay đổi tội
danh 02 vụ 03 bị can.
Các vụ án VKS trả hồ sơ yêu cầu CQCSĐT điều tra
bổ sung đều có căn cứ và đúng quy định. Cơ quan CSĐT đã điều tra bổ sung theo
yêu cầu của VKS, kết quả: Đã chuyển VKS đề nghị truy tố 06 vụ – 14 BC.
- Vụ Trần Thị Kim
Thoa cùng đồng bọn - can tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. VKS trả hồ sơ yêu cầu CQĐT thay
đổi tội danh từ tội “Cưỡng đoạt tài sản”, sang tội “Công nhiên chiếm
đoạt tài sản”. Kết quả hiện nay đã
điều tra bổ sung và truy tố Ví dụ: -Vụ Nguyễn Ngọc Minh Tuấn cùng đồng bọn can
tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Toà án trả hồ sơ yêu cầu xác
định thẩm quyền xét xử của vụ án. Tòa án trả hồ sơ trong thời hạn quy định
tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS.
Sau khi nghiên cứu, VKS xét thấy lý do trả hồ sơ
của Tòa là chưa đúng căn cứ luật định, nên VKS đã tổ chức họp liên ngành và
xin ý kiến thỉnh thị của VKSND tỉnh, sau đó có công văn giữ nguyên qua điểm
truy tố.
- Vụ Phạm
Vũ Nhật Linh can tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”,
Tòa án trả hồ sơ yêu cầu khởi tố bổ sung 01 bị can. Tòa án trả hồ sơ
trong thời hạn quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS. Sau khi nhận hồ sơ
điều tra bổ sung, VKS đã tổ chức họp liên ngành tố tụng hình sự huyện, do quan
điểm liên ngành không thống nhất nên VKSND huyện đã có Công văn xin ý kiến
thỉnh thị của VKSND tỉnh. Sau đó VKSND huyện đã trả hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công
an huyện để khởi tố bổ sung 01 bị can Phạm Ngọc Duy theo chỉ đạo của liên
ngành tố tụng tỉnh.
- Vụ Nguyễn Đức Thắng – can tội “Cố ý gây thương
tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. VKS trả hồ sơ yêu cầu Cơ
quan Điều tra bổ sung thay đổi tội danh từ tội “Cố ý gây thương tích” sang
tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Kết
quả vụ án đã kết thúc điều tra bổ sung, truy tố, xét xử xong.
Đối với cả 2 vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung
trên, Cơ quan điều tra đã đồng ý với quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung theo
yêu cầu của Viện kiểm sát. Việc kết thúc điều tra bổ sung của cơ quan điều tra
trong hạn luật định. Nguyên nhân do ban đầu quan điểm nhận định về tội danh
giữa Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chưa thống nhất.
3. Phân tích
nguyên nhân, trách nhiệm dẫn đến việc điều tra bổ sung:
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng
việc trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung giữa các ngành tố tụng thì có
nhiều, song chủ yếu tập trung ở những nguyên nhân chính sau đây:
3.1- Nguyên nhân khách quan:
- Tội phạm
diễn biến ngày một phức tạp, quy mô, tính chất, mức độ phạm tội , thủ đoạn hoạt
động phạm tội ngày càng tinh vi, nhiều vụ án phạm tội có tổ chức với nhiều đối
tượng tham gia, phạm tội trên nhiều địa bàn rộng lớn, việc điều tra xác minh
tội phạm gặp nhiều khó khăn, các thủ tục tố tụng và chứng cứ thu thập chưa đáp
ứng được nội dung yêu cầu chứng minh tội phạm; mặt khác tính dân chủ trong hoạt
động tố tụng ngày càng cao. Vì vậy, việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung
chứng cứ, thủ tục tố tụng đối với các vụ án là cần thiết và đúng quy định pháp
luật.
- Một số
điều luật trong BLTTHS quy định chưa phù hợp về thời hạn điều tra, truy tố, xét
xử… dẫn đến có một số vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, số lượng bị can đông,
hành vi phạm tội xảy ra ở nhiều địa phương khác dẫn đến khó khăn khi thực hiện.
- Quan
điểm nhận thức, đánh giá chứng cứ của một số ĐTV, KSV, Thẩm phán và giữa các cơ
quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất.
- Có những
vụ án khi xét xử phát sinh tình tiết mới có liên quan đến chứng cứ buộc tội, gỡ
tội hoặc phát hiện bỏ lọt tội phạm nên cần phải hoãn phiên tòa và trả hồ sơ vụ
án để điều tra bổ sung.
- Một nguyên nhân khác có tác động đến tư tưởng
và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng là khi Quốc hội ra
Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 về thường thiệt hại cho người bị oan do người
có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Các cơ quan tiến hành tố
tụng và người tiến hành tố tụng ở một số địa phương tỏ ra quá thận trọng trong
việc đấu tranh xử lý tội phạm, xuất hiện tư tưởng né tránh đùn đẩy trách nhiệm
giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ở một số địa
phương tỏ ra qua thận trọng trong việc đấu tranh xử lý tội phạm, xuất hiện tư
tưởng né tránh đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng bằng việc
tìm ra mọi lý do để trả hồ sơ, mặc dù lý do không thực sự thuyết phục và không
có căn cư.
3.2- Nguyên
nhân chủ quan:
- Qua việc VKS trả hồ sơ điều tra bổ sung cho
thấy quá trình kiểm sát điều tra, viện kiểm sát đã thường xuyên đốc thúc điều
tra, có công văn yêu cầu điều tra nhưng Điều tra viên không thực hiện đầy đủ
các yêu cầu của Viện kiểm sát và trong quá trình điều tra còn nhiều khoảng thời
gian bỏ trống không tiến hành các bước điều tra theo quy định tố tụng nên phải
gia hạn điều tra, kéo dài thời gian giải quyết vụ án mà vẫn không làm rõ được
nội dung và các tình tiết trong vụ án dẫn đến sau khi kết thúc điều tra Viện
kiểm sát phải trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Ý thức trách nhiệm, năng lực nghiệp vụ của một
số Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán chưa cao, chưa đáp ứng được với yêu
cầu nhiệm vụ. Quá trình giải quyết án một số cán bộ chưa thực hiện đúng, đầy đủ
các quy trình nghiệp vụ cũng như quy định của BLTTHS trong việc thu thập, bảo
quản chứng cứ, lấy lời khai, hỏi cung…
- Lãnh đạo
đơn vị có lúc chưa kịp thời kiểm tra, đôn đốc Kiểm sát viên, Điều tra viên cũng
như chưa trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án. Một số Kiểm sát viên, Điều tra viên khi
báo án chưa báo hết, đầy đủ các nội dung tình tiết của vụ án nên gây khó khăn
cho việc chỉ đạo nghiệp vụ, dẫn đến chỉ đạo không sâu, không phát hiện thiếu
sót trong việc đánh giá chứng cứ, tội danh…
- Lãnh đạo
liên ngành chưa thật sự dành nhiều thời gian để quan tâm, kiểm tra, chỉ đạo,
nắm bắt tiến độ điều tra, chưa đánh giá kịp thời những diễn biến khó khăn,
thuận lợi của vụ án để bố trí cán bộ một cách hợp lý nhằm vừa phát huy được
năng lực, trách nhiệm của cán bộ, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn. Vì
vậy không phát hiện kịp thời những thiếu sót trong công tác điều tra, dẫn đến
chậm phát hiện những thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ, định tội danh… dẫn
đến phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
- Một số điều
tra viên chưa cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời tài liệu cho Kiểm
sát viên nên Kiểm sát viên không phát hiện được hồ sơ cần điều tra thêm những
vấn đề gì. Vì vậy, không kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, dẫn đến khi hồ sơ
chuyển qua Viện kiểm sát không đủ chứng cứ, không đầy đủ thủ tục tố tụng và bỏ
lọt hành vi phạm tội mà VKS không tự khắc phục được. Một số trường hợp đã có
yêu cầu điều tra nhưng ĐTV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ song Kiểm
sát viên không kiên quyết yêu cầu Điều tra viên phải thực hiện đầy đủ.
- Một số
trường hợp Kiểm sát viên còn thụ động chờ việc, chưa chủ động nghiên cứu hồ sơ,
hoặc nghiên cứu không sâu nên không phát hiện được những vấn đề cần thiết phải
bổ sung vào hồ sơ vụ án (chứng cứ, lý lịch tư pháp, thay đổi tội danh…) nên khi
truy tố hồ sơ chuyển tòa mới phát hiện.
- Một số
trường hợp hồ sơ chỉ thiếu những chứng cứ, thủ tục đơn giản có thể khắc phục
được ngay nhưng tòa vẫn trả hồ sơ yêu cầu ĐTBS.
- Tình
hình diễn biến tội phạm ngày càng phức tạp, số án thụ lý tăng nhưng thiếu biên
chế, cán bộ có chức năng pháp lý (Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán);
chính sách đãi ngộ đối với cán bộ trực tiếp giải quyết án chưa hợp lý, trong khi
họ lại luôn chịu áp lực của công việc.
- Kiểm sát
viên, Điều tra viên, Thẩm phán chưa được thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn về
nghiệp vụ.
3.3- Trách nhiệm đối với việc trả hồ sơ điều tra
bổ sung:
* Viện
kiểm sát: Với chức năng, nhiệm vụ của VKSND được quy định tại Điều 12, Luật
tổ chức VKSND năm 2002 thì dù ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào đều thuộc trách
nhiệm của VKSND. Đôi lúc Kiểm sát viên còn thụ động, trông chờ vào kết quả điều
tra, chưa thực hiện KSĐT ngay từ đầu, có những vụ án tuy có yêu cầu điều tra
nhưng yêu cầu điều tra còn sơ sài, chung chung, không đầy đủ, rõ ràng. Quá
trình điều tra chưa thực sự đeo bám dẫn đến kết quả điều tra chưa đáp ứng được
yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử.
* Cơ
quan Cảnh sát điều tra: Quá trình điều tra chưa làm hết chức năng, nhiệm vụ
theo quy định của BLTHS. Mặc dù Viện kiểm sát đã có công văn và kế hoạch yêu
cầu điều tra nhưng CQĐT thực hiện không đầy đủ. Quá trình điều tra không tích
cực, hồ sơ khởi tố rồi để trống khoảng thời gian dài khi sắp hết hạn điều tra
mới làm.
* Tòa án: Chưa thật sự phối hợp, có nhiều trường
hợp có thể trao đổi, bổ sung không nhất thiết phải trả hồ sơ nhưng TA vẫn trả,
có nhiều trường hợp TA trả không đúng nên VKS vẫn giữ nguyên quan điểm và đã
được TA xét xử.
III. Những giải
pháp kiến nghị nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan
tiến hành tố tụng:
1. Trong công tác
THQCT, KSĐT, KSXX các vụ án hình sự:
- Nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán
bộ, kiểm sát viên trong việc thực hiện quy chế nghiệp vụ của ngành, quy chế
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra hình sự; quy chế thực hành quyền
công tố và kiểm sát xét xử án hình sự.
- Thực hiện kiểm sát điều tra ngay từ đầu, nắm
chắc tiến độ điều tra của cơ quan điều tra, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, kịp thời
định hướng và đề ra các yêu cầu điều tra trong thời hạn điều tra. Khi cần thiết
phải tiến hành áp dụng ngay các biện pháp nghiệp vụ như: Kiểm sát khám nghiệm
hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập dấu vết, thu giữ vật chứng… để nắm
chắc diễn biến vụ án.
- Khi cơ
quan điều tra đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, cần phải nghiên cứu
kỹ hồ sơ, khi đủ căn cứ mới đề xuất lãnh đạo ký phê chuẩn, nếu chưa đủ thì yêu
cầu cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, không đề nghị phê chuẩn khi chưa
đủ căn cứ hoặc chứng cứ chưa vững chắc.
- Khi phân
công kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án
phải căn cứ vào năng lực, trách nhiệm và yêu cầu nghiệp vụ đối với từng vụ án
để phân công.
2. Trong công tác
phối hợp:
- Xây dựng tốt mối quan hệ phối hợp giữa ba
ngành, duy trì đều đặn chế độ giao ban liên ngành để phối hợp khắc phục thiếu
sót trong quá trình giải quyết án. Hàng tháng cần tổng hợp những vi phạm trong
cả ba giai đoạn (điều tra, truy tố, xét xử) để rút kinh nghiệm trong các cuộc
giao ban liên ngành. Lãnh đạo cần chỉ đạo, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm về
những thiếu sót đến từng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thâm phán để cùng rút
kinh nghiệm nhằm không để xảy ra những sai phạm tương tự.
- Trường
hợp Tòa án trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung không đúng, có tỷ lệ cao thì
Viện trưởng VKS cần có văn bản kiến nghị với Chánh án tòa án yêu cầu rút kinh
nghiệm để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không theo đúng quy định của
pháp luật.
- Những vụ
án điểm, phức tạp, có vướng mắc về chứng cứ, thủ tục tố tụng cần tổ chức họp
liên ngành. Sau khi họp nếu không khắc phục được mới trả hồ sơ để điều tra bổ
sung.
- Đối với
những trường hợp hồ sơ vụ án thiếu chứng cứ nhưng không phải là chứng cứ quan
trọng đối với vụ án hoặc có vi phạm tố tụng nhưng không phải là vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng, thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ trao đổi, phối hợp để
hoàn thiện hồ sơ vụ án mà không cần thiết phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, làm
kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.
- Nếu việc
điều tra bổ sung phức tạp, cơ quan yêu cầu điều tra bổ sung và cơ quan thực
hiện điều tra bổ sung cần họp, bàn thống nhất thực hiện để việc điều tra bổ
sung đảm bảo đầy đủ, kịp thời, tránh việc trả đi trả lại nhiều lần.
3. Những giải pháp khác:
- VKS huyện đã tổ chức họp, kiểm điểm, rút kinh
nghiệm đồng thời xác định nguyên nhân, trách nhiệm trong việc trả hồ sơ điều
tra bổ sung.
- Yêu cầu kiểm sát viên, chuyên viên thực hiện
kiểm sát điều tra cần nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm đồng thời tập trung
làm tốt hơn nữa công tác kiểm sát điều tra, truy tố để đảm bảo hồ sơ chặt chẽ,
chính xác nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.
- Đội ngũ cán bộ, KSV, ĐTV, TP làm công tác giải
quyết án phải luôn tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao năng lực nghiệp
vụ, trình độ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của người cán bộ trong
việc thực hiện nghiệp vụ.
4 - Một số kiến nghị.
2.1 - Đối với
Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Toà án:
- Để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và thực hiện tốt
chức năng điều tra, truy tố, viện kiểm sát và cơ quan điều tra có sự chủ động bố trí đội ngũ cán bộ
có năng lực nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác nhất là đội ngũ điều tra viên,
kiểm sát viên.
- Hệ thống hóa các văn bản pháp luật hình sự
đang có hiệu lực trên các lĩnh vực nghiệp vụ để tiện tra cứu vận dụng. Tổ chức
tập huấn các chuyên đề chuyên sâu về nghiệp vụ điều tra, kiểm sát điều tra nhằm
tạo sự chuyển biến mới trong nhận thức, ý thức trách nhiệm để thực hiện tốt
nhiệm vụ.
- Tăng biên chế và cơ sở vật chất cho các đơn vị
nhất là các đơn vị có lượng án lớn, các đơn vị được tăng thẩm quyền.
2.2 - Đối với
liên ngành Trung ương:
Phối hợp trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung
một số thông tư liên tịch hướng dẫn một số điều của bộ luật hình sự trước đây
không còn phù hợp với thực tế và diễn biến của tình hình tội phạm. Xây dựng
thông tư liên ngành đẻ hướng dẫn giải thích thuật ngữ trong các điều luật: điêu
140 BLHS quy định về tội “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Điều 155
về tội “sản xuất vận chuyển mua bán hàng cấm”, điều 248 về tội “Đánh bạc” và
các tội phạm về ma túy, về kinh tế… từ việc các điều luật được hướng dẫn, giải
thích một cách cụ thể, giúp các ngành vận dụng khi xử lý vụ án, tránh trường
hợp hồ sơ phải kéo dài, hoặc trả đi trả lại vì chưa thống nhất nhận thức về pháp
luật mà phải chờ xin ý kiến hướng dẫn của cấp trên.
Như vậy, trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một
hoạt động tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo cho
việc điều tra, truy tố, xét xử một cách chính xác, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội. Trong thời
gian qua, nhìn tổng thể, công tác kiếm sát điều tra trong một số vụ án còn
nhiều thiếu sót về thu thập chứng cứ, xác định tội danh,… dẫn đến xác định
phương hướng điều tra và đường lối giải quyết vụ án không đúng. Tình hình này
đòi hỏi các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải chú trọng thực hiện tốt hơn
nữa trong công tác này. Qua đó, không những góp phần đấu tranh phòng chống tội
phạm, bảo vệ pháp chế, bảo vệ công lý, mà còn bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và
người phạm tội, tránh làm oan, sai người vô tội./.
Nguyễn
Bá Thái
VKSND huyện Thống Nhất