Trong những năm qua ,Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống nhất đã tập trung làm tốt chức năng nhiệm vụ của ngành , trong đó có khâu công tác kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự . Để hoàn thành tốt chỉ tiêu nhiệm vụ kế hoạch hàng năm, Lãnh đạo và kiểm sát viên trong đơn vị đã căn cứ vào các quy định của pháp luật và văn bản hướng dẫn cuả ngành dọc cấp trên để thực hiện đạt hiệu quả năm sau cao hơn năm trước.
Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 được sửa
đổi bổ sung 2011 tiếp tục khẳng định chức năng của ngành kiểm sát nhân dân là
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự , đồng thời khoản 2 điều
21 BLTTDS sửa đổi quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ
thẩm đối với các việc dân sự , các phiên
tòa sơ thẩm đối với những vụ án do Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối
tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở
hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể
chất, tinh thần ..”
Như vậy , Bộ luật TTDS (SĐBS 2011 ) có nhiều quy
định mới , trong đó có quy định mở rộng phạm vi , nhiệm vụ, quyền hạn của Viện Kiểm
Sát nhân dân trong tố tụng dân sự .
I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH TRANH CHẤP DÂN SỰ, HNGĐ
TRONG 5 NĂM (2009-2013).
Qua các năm 2009 đến 2013 tình hình tranh chấp
dân sự diễn ra trên địa bàn huyện Thống nhất diễn biến phức tạp đa dạng và phong phú , số lượng tranh
chấp dân sự có liên quan đến tài sản , nhà đât ngày một gia tăng . Do đối tượng
của tranh chấp nhà đất được khởi kiện ra tòa án
đa dạng không chỉ là quyền quản
lý , sử dụng nhà đất mà còn tranh chấp trong quá trình xác lập và thực hiện các
giao dịch về nhà đất như chuyển đổi, chuyển nhượng , cho thuê cho thuê lại ,
thế chấp, bảo lãnh , góp vốn bằng giá trị sử dụng đất …
Bên cạnh tình hình tranh chấp về dân sự thì số
vụ án về hôn nhân gia đình cũng tăng cao không chỉ giải quyết về vấn đề hôn nhân
mà vấn đề tranh chấp nuôi con khi ly hôn, vấn đề nợ chung, vấn đề tranh chấp
tài sản sau ly hôn cũng gia tăng năm sau
cao hơn năm trước khoảng 20% .
Viện kiểm sát đã phối hợp tốt với Tòa án kịp
thời nắm chắc số thụ lý và kết quả giải
quyết , thường xuyên rà soát thời hạn giải quyết để đẩy nhanh tiến độ đảm bảo
thòi hạn giải quyết đúng quy định của BLTTDS góp phần bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân .
II. KẾT QUẢ
CÔNG TÁC KIỂM SÁT GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 2009 ĐẾN 2013 :
1/.Về số liệu
án dân sự thụ lý, giải quyết:
a/
Số thụ lý:
Năm
2009 :VKS đã nhận thông báo thụ lý 188 vụ ( DS: 55-HN : 133 vụ )
Năm
2010 : VKS nhận thông báo thụ lý 193 vụ ( DS 60 – HN 133 vụ )
Năm
2011 : VKS nhận thông báo thụ lý 378 vụ ( DS 121 vụ - HN 257 vụ )
Năm
2012 : VKS nhận thông báo thụ lý : 331 vụ ( DS 109 vụ - HN 221 vụ
Năm
2013 : VKS nhận thông báo thụ lý : 434 vụ ( DS
- HN)
b/ Số vụ giải quyết:
-
Năm 2009 : Tòa án đã giải quyết 178 vụ (DS 54
–HN 133 vụ )
-
Năm 2010 : Tòa án đã giải quyết 185 vụ ( DS – HN )
-
Năm 2011
: Tòa án đã giải quyết 280 vụ ( DS 218 – HN 62 vụ )
- Năm 2012: Số vụ Dân sự đã giải quyết: 101 vụ (so với
năm 2011là 101/ 62 vụ tăng 59 vụ). Số
vụ hôn nhân đã giải quyết: 202 vụ (tăng
04 vụ so với năm 2011).
-
Năm 2013: Tòa án Huyện đã giải quyết : 334 vụ (
DS -
HN )
2/
Hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ việc Dân sự, HNGĐ:
2.1/.
Kiểm sát thông báo thụ lý:
Năm 2009 :VKS đã kiểm sát thông báo thụ lý 188
vụ ( DS: 55-HN : 133 vụ )
Năm 2010 : VKS đã kiểm sát thông báo thụ lý 193
vụ ( DS 60 – HN 133 vụ )
Năm 2011 : VKS đã kiểm sát thông báo thụ lý 378 vụ ( DS 121 vụ - HN 257
vụ )
Năm 2012 : VKS kiểm sát thông báo thụ lý : 331
vụ ( DS 109 vụ - HN 221 vụ
Năm 2013 : VKS kiểm sát thông báo thụ lý : 434
vụ ( DS - HN)
2.2/. Lập phiếu kiểm sát:
Năm 2009: VKS
đã lập phiếu kiểm sát bản án , QĐ 188 vụ (DS: 55-HN : 133 vụ)
Năm 2010 : VKS đã lập phiếu kiểm sát bản án, QĐ
193 vụ (DS 60 – HN 133 vụ)
Năm 2011 : VKS đã lập phiếu kiểm sát BA,QĐ 378 vụ (DS 121 vụ - HN 257 vụ)
Năm 2012 : VKS đã lập phiếu kiểm sát BA,QĐ : 331
vụ (DS 109 vụ - HN 221 vụ
Năm 2013 : VKS đã lập phiếu kiểm sát BA,QĐ : 434
vụ (DS - HN)
2.3/.Tham gia xét xử:
Trong năm 2012 Viện kiểm sát huyện đã tham
gia xét xử 33 vụ án DS-HNGĐ theo lịch xét xử của Tòa án đạt tỉ lệ
100% trong đó có: 11 vụ án dân sư, 22 vụ án hôn nhân gia đình .
Năm 2013 : Viện Kiểm Sát huyện đã tham gia xét
xử 35 vụ (DS 8 vụ - HN 25 vụ) đạt tỷ lệ 100% .
Ngoài ra năm 2013 VKS huyện còn tổ chức được 06
phiên tòa xét xử theo tinh thần cải cách tư pháp .
2.4/. Kháng nghị- kiến nghị:
Năm
2009 : Đã ban hành 03 kiến nghị Tòa án huyện có vi phạm để án quá hạn , Ban
hành 01 kháng nghị đề nghị cấp phúc thẩm sửa một phần bản án về áp dụng căn cứ
pháp luật không phù hợp được cấp phúc thẩm chấp nhận .
Năm
2010: Đã ban hành 01 kiến nghị chậm gửi
thông báo thụ lý và còn để án quá hạn đối với Tòa án huyện. Ban hành 01 kháng nghị phúc thẩm và 01 ba cáo
đề nghị giám đốc thẩm được chấp nhận .
Năm
2011:
Đã
ban hành 06 kiến nghị vi phạm đối với Tòa án huyện khắc phục 1 số vi phạm TTDS
(SĐBS 2011), kết quả chấp nhận toàn bộ .
Đã
ban hành 03 kháng nghị phúc thẩm , 01 báo cáo đề nghị VKS Tỉnh kháng nghị phúc
thẩm . Kết quả chấp nhận 02, chấp nhận một phần 01 , không chấp nhận 01.
Năm
2012 :
Viện
kiểm sát huyện đã ban hành 03 kháng nghị, trong đó: kháng nghị 02
bản án dân sự và 01 việc dân sự theo trình tự thủ tục phúc thẩm, 01
báo cáo kháng nghị. Tòa án cấp phúc thẩm đã xét xử 02 vụ chấp
nhận 02 kháng nghị của Viện kiểm sát. Về kiến nghị Tòa án huyện:
08 văn bản và UBND xã Quang Trung: 01 văn bản, cơ bản đã chấp nhận và
khắc phục tồn tại thiếu sót .
Năm
2013 :Viện Kiểm Sát đã ban hành 05 kiến nghj Chán h án Tòa án nhân dân huyện đề
nghị khắc phục chấn chỉnh những vi phạm quy định tại TTLT số 04/2012/TTLT-TATC-VKSTC
ngày 01-8-2012 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao .
Ban
hành 02 kháng nghị phúc thẩm (được chấp nhận 01) .
Ban
hành 01 công văn đề nghị xem xét kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc
thẩm của Tòa án Tỉnh (không được chấp nhận).
Ban
hành 01 báo cáo đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với Quyết định CNSTT số
132/2013/QĐST-HNGĐ ngày 26-6-2013 đã được VKS Tỉnh chấp nhận đã có quyết định
kháng nghị số 329/QĐ-KNGĐT –P5 ngày 23-10-2013 .
III. NHẬN XÉT,
ĐÁNH GIÁ:
Trong 5 năm
qua,Viện kiểm sát huyeän đã
mở đầy đủ sổ theo dõi và vận dụng phương thức kiểm sát các thông báo thụ lý, bản án , quyết
định các vụ việc dân sự, HNGĐ một cách nghieâm tuùc theo hướng dẫn của Viện kiểm sát nhân dân cấp trên. Cụ thể:
- Hằng năm Viện
kiểm sát huyeän phân công lãnh đạo, kiểm sát viên, chuyên viên
thực hiện công tác kiểm sát các thông
báo thụ lý, bản án , quyết định các vụ việc dân sự, HNGĐ
- Năm 2010 Viện
kiểm sát huyeän đã
xây dựng được một quy chế phối hợp liên nghành giữa Viện kiểm sát huyện và Toà
án huyện để thực hiện hoạt động kiểm sát giải quyết các vụ, việc dân sự , HNGĐ
hành chính, lao động kinh doanh thương mại. Trong quá trình thực hiện công tác
kiểm sát, Kiểm sát viên, chuyên viên Viện kiểm sát huyện đã chủ động thường xuyên theo dõi thông
tin từ đương sự, toà án và quần chúng nhân dân về các vụ, việc mà Toà án thụ lý
vụ án cho đến khi có kết quả giải quyết để phát hiện vi phạm có kiến nghị kịp
thời. Khi kiểm sát các bản án, quyết
định các vụ, việc dân sự , HNGĐ, Kiểm sát viên, chuyên viên lập phiếu kiểm sát
bản án, quyết định và có nghiên cứu thảo luận, bàn bạc nêu lên ý kiến quan điểm
của Kiểm sát viên, chuyên viên về nội dung vụ, việc và căn cứ pháp luật.
Trong
quá trình thực hiện công tác kiểm sát các bản án, quyết định các vụ, việc dân
sự nếu gặp những vụ, việc phức tạp thì
lập phiếu mượn hồ sơ để nghiên cứu xác định có vi phạm hay không. Những bản án,
quyết định có vi phạm cần kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có công văn xin
ý kiến của phòng 5- Viện kiểm sát tỉnh
Đồng Nai cho ý kiến chỉ đạo giải quyết.
Từ
phương thức hoạt động như thế, trong những năm qua Viện kiểm sát huyeän đạt được một số
kết quả như: Hạn chế được việc gửi chậm các văn bản thông báo thụ lý, bản án,
quyết định của Toà án cho Viện kiểm sát huyện, khắc phục những sai sót về bản án không theo mẫu, án bị
sửa, huỷ cũng được giảm dần, kháng nghị một số bản án, quyết định có vi phạm về
nội dung và áp dụng pháp luật. Mối quan hệ phối hợp liên nghành Kiểm sát-Toà án trong việc giải quyết các vụ, việc dân sự , HNGĐ,
hành chính, lao động kinh doanh thương mại, ngày càng chặt chẽ, thống nhất.
Ngay sau khi BLTTDS (SĐBS 2011) đi vào thực
hiện, Viện kiểm sát nhân dân huyện đã tập trung thực hiện công tác
kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự… theo đúng quy định của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2004 (SĐBS năm 2011) , Kiểm sát việc thụ lý,
giải quyết các vụ việc dân sự, HNGĐ theo đúng quy định . Kịp thời vào
sổ thụ lý và lập hồ sơ kiểm sát theo đúng trình tự và biểu mẫu quy định.
Tham gia xét xử 100% các vụ án dân sự,
HNGĐ … theo quy định tại Điều 21 BLTTDS năm 2004 (SĐBS năm 2011) và các
vụ án lao động, hành chính, KDTM.
Lập phiếu kiểm sát 100% bản án quyết
định của Tòa án, trú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả trong công
tác kháng nghị-kiến nghị. Kết quả đã ban hành nhiều kháng nghị, báo
cáo kháng nghị đối với bản án quyết định của Tòa án và kiến nghị
đối với Tòa án, đồng thời kiến nghị đối với Cơ quan quản lý nhà nước ở
địa phương yêu cầu khắc phục hạn chế thiếu sót còn tồn tại thực
hiện tố tụng dân sự và quản lý hành chính tư pháp, trong việc cấp
GCNQSDĐ cho cá nhân .
Duy trì họp bộ phận báo cáo án và thực
hiện đầy đủ các báo cáo theo quy định của ngành, đối chiếu với chỉ
tiêu kế hoạch đề ra đều đạt và vượt, 01 số kiểm sát viên được khen
thưởng đột xuất trong viêc thực hiệc công tác kháng nghị, kiến nghị .
IV. NHỮNG TỒN
TẠI, HẠN CHẾ - NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC
1/ Những tồn tại hạn chế :
Thời
gian qua khi chưa SĐBS Bộ luật tố tụng dân sự , công tác kiểm sát giải quyết
các vụ án dân chưa được quan tâm đúng mức như việc bố trí cán bộ tương xứng .
Cán
bộ, kiểm sát viên còn phải kiêm nhiệm và 1 số còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm.
Việc
nghiên cứu cập nhật các văn bản pháp
luật cũng như các tài liệu từ hoạt động thực tiễn còn hạn chế .
2/Nguyên nhân và giải pháp khắc phục
-
Do bất cập, chồng chéo, vướng mắc trong việc
áp dụng pháp luật
+/. Luật đất đai và các văn
bản hướng dẫn mới chỉ quy định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) phải
ghi tên cả hai vợ chồng, những trường hợp quyền sử dụng đất là tài sản chung
không phải là vợ chồng thì chỉ cần đại diện đứng tên nhưng người đứng tên đó đã
dùng GCNQSDĐ chuyển nhượng mà các sở hữu chung khác không biết nên đã xảy ra
tranh chấp. Đặc biệt quyền sử dụng đất của dòng họ. Nên có mẫu quy định GCNQSDĐ
cho trường hợp này.
+. Việc cấp GCNQSDĐ đối với
những người sử dụng đất nằm trong các quy hoạch: Khi dự án chưa được thực hiện,
chưa có thông báo hay quyết định thu hồi đất, cơ quan chức năng cấp GCNQSDĐ chỉ
ghi phần diện tích đất không nằm trong quy hoạch như vậy phần đất hợp pháp của
người sử dụng đất không thể hiện sự quản lý của Nhà nước, dẫn tới người sử dụng
đất khiếu nại về việc Nhà nước thu hồi một phần đất của họ nhưng không có quyết
định thu hồi đất. Khi ký hợp đồng chuyển nhượng cơ quan công chứng chỉ chứng
nhận phần đất có trong GCNQSDĐ, khi xảy ra tranh chấp TA cũng chỉ tuyên
phần đất đã có trong hợp đồng dẫn tới tình trạng Bản án không thể thi hành
được.
+ /Việc đánh giá quyết định
cá biệt rõ ràng của cơ quan Nhà nước trái pháp luật còn mang tính chủ
quan của người tiến hành tố tụng, có
nhiều vụ án, cấp sơ thẩm xác định việc cấp GCNQSDĐ rõ ràng trái pháp luật và
tuyên hủy nhưng cấp phúc thẩm nhận định việc cấp GCNQSDĐ là đúng và sửa bản án
sơ thẩm.
+/ Luật đất đai và các văn
bản hướng dẫn chưa đáp ứng được các quan hệ liên quan tới vấn đề sở hữu đất
đai, giá đất, vấn đề thu hồi đất, đền bù thiệt hại về đất...Luật đất đai quy
định về xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho người sử dụng đất (GCNQSDĐ)
không phù hợp với hệ thống quản lý Nhà nước về đất đai hiện tại còn yếu kém,
việc sử dụng đất của người dân còn mang nặng các phong tục, tập quán truyền
thống (đất của tổ tiên, ông cha để lại) họ không có bất cứ một loại giấy tờ
theo quy định của Luật đất đai nhưng cũng không ai tước bỏ quyền sở hữu tài sản
và quyền sử dụng đất của họ, khi họ tham gia các giao dịch dân sự liên quan tới
quyền sử dụng đất.
+/ Điều 131 BLDS quy định
giao dịch dân sự vô hiệu do bị nhầm lẫn do một bên có lỗi cố ý hoặc vô ý. Thực
tiễn xảy ra những trường hợp một bên bị nhầm lẫn mà không xác định được lỗi của
bên kia (cả hai đều bị nhầm lẫn). Như vậy trong việc ký kết hợp đồng trên cả
hai đều nhầm lẫn mà không xác định được lỗi của ai. Nên sửa Điều 131 theo
hướng: yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu do bị nhầm lẫn mà không quy định về
nguyên nhân của sự nhầm lẫn (như Pháp lệnh HĐDS và BLDS năm 1995 đã quy định).
+/. Điều 134 BLDS quy định:
“...Toà án...buộc các bên thực hiện quy định về hình thức của giao dịch trong
một thời hạn; quá thời hạn đó mà không thực hiện thì giao dịch vô hiệu”. Trong
khi đó Luật đất đai, Nghị định 84 ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định: Việc
đăng ký quyền sử dụng đất để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không
thực hiện khi có tranh chấp. Như vậy, giữa Luật đất đai và BLDS mâu thuẫn nhau.
Như vậy Điều 134 nên sửa theo hướng: bỏ cụm từ “buộc các bên thực hiện quy định
về hình thức của giao dịch trong một thời hạn”, vì quy định như vậy không có
tính khả thi khi Cơ quan Nhà nước từ chối việc đăng ký quyền sử dụng đất không
có căn cứ, xâm phạm quyền lợi của đương sự.
+/. Điều 135 Luật đất đai
năm 2003 quy định: “Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất tự hoà giải
hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở”. Như vậy hoà
giải cơ sở không coi là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện ra Toà. Nhưng Điều
136 Luật đất đai lại quy định: “Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại UBND xã
phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải
quyết như sau: Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1,2
và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà
án giải quyết”. Thực tế, thủ tục hoà giải tại cơ sở là điều kiện bắt buộc khi
thụ lý vụ án tranh chấp đất đai, nhiều vụ án Toà án trả lại đơn khởi kiện vì
chưa có thủ tục hoà giải, nhiều khi chờ đợi UBND địa phương hoà giải sẽ mất
quyền khởi kiện của đương sự (hết thời hiệu khởi kiện) vì theo Điều 166 BLTTDS
quy định: “Ngày khởi kiện được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án hoặc
ngày có dấu bưu điện nơi gửi”. Nhiều trường hợp gây phiền hà tốn kém cho người
khởi kiện, đặc biệt trường hợp khởi kiện chia di sản thừa kế mà di sản không
cùng địa phương với các đương sự hoặc mỗi đương sự sống một nơi.
+/. Điều 137 BLDS quy định
hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu: Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì
các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận
nhưng đối với những tài sản là nhà, đất không còn nguyên giá trị thì giải quyết
như thế nào và cần áp dụng khung giá? khi giải quyết hậu quả của hợp đồng vô
hiệu?. Hiện nay, TA đã áp dụng Nghị quyết 01/2003 ngày 16/4/2003 để giải quyết
và xác định lỗi của các bên nhưng trong trường hợp cả hai bên đều không có lỗi
thì những thiệt hại được chia đôi. Vấn đề vướng mắc ở chỗ: sự chênh lệnh
quá cao giữa giá nhà đất do UBND cấp tỉnh quy định với giá thị trường tại thời
điểm xét xử.
Ví dụ: HĐĐG căn cứ khung giá do UBND thành phố quy định, TA
yêu cầu HĐĐG phải dùng giá thị trường thì yêu cầu không được HĐĐG chấp nhận.
+/. Điều 163 BLDS: Tài sản
bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Điều 402 khoản 1 quy
định đối tượng của hợp đồng là tài sản phải giao...Vấn đề thực tiễn đang mắc:
nhà và đất sẽ được hình thành trong tương lai có phải là đối tượng của hợp đồng
không? Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có được coi là giấy tờ về quyền tài
sản không?. Hiện nay có quan điểm cho rằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn
liền với đất hình thành trong tương lai được phép đưa vào giao dịch trong ký
kết hợp đồng thế chấp, bảo lãnh. Việc đăng ký thế chấp và bảo lãnh thực hiện
theo quy định tại thông tư 05/2005 ngày 16/6/2005 của Bộ tư pháp, Bộ tài nguyên
và môi trường. GCNQSDĐ được coi là giấy tờ về quyền tài sản.
+/. Điều 168 BLDS quy định
thời điểm chuyển quyền sở hữu đối với tài sản: đối với bất động sản, đăng ký là
điều kiện làm phát sinh hiệu lực của sự chuyển quyền sở hữu còn động sản thì từ
thời điểm được chuyển giao. Thực tiễn đối với những tranh chấp hợp đồng mua
bán, tặng cho nhà chưa tuân thủ quy định về hình thức. BLDS không quy định hình
thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch còn trong Luật nhà ở thì quy định
“quyền sở hữu đối với nhà ở được chuyển kể từ thời điểm hợp đồng được công
chứng (khoản 5 Điều 93)”. Điều 401 BLDS quy định”...trường hợp pháp luật có quy
định khác...”, như vậy quy định của pháp luật về thời điểm có hiệu lực của hợp
đồng tặng cho nhà ở không thống nhất nên có những quan điểm khác nhau khi giải
quyết các tranh chấp về hợp đồng.
+/. Điều 247 khoản 1BLDS,
quy định: người chiếm hữu ngay tình, người được hưởng lợi về tài sản liên tục,
công khai...30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu tài sản đó
nhưng đối với quyền sử dụng đất theo Luật đất đai quy định: cá nhân, tổ chức
chỉ có quyền sử dụng đất..
+/. Điều 462 quy định về
chuộc lại tài sản. Đây là sự thoả thuận giữa người bán và người mua tài sản
được pháp luật công nhận theo đó người mua tài sản trong thời hạn chuộc tài sản
đã bị hạn chế quyền sở hữu tài sản mà mình đã mua “không được bán, trao đổi,
cho thuê, thế chấp, cầm cố, phải chịu rủi ro đối với tài sản”. Tuy nhiên thực
tế đã phát sinh những quan hệ liên quan tới tài sản đó trong thời hạn chuộc tài
sản như: người mua có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình không?
Một trong những người bán hoặc người mua chết thì những người thừa kế của họ
có được hưởng quyền chuộc, cho chuộc lại tài sản không?. Khi phát sinh tranh
chấp giữa những người thừa kế làm cho TA lúng túng trong quá trình giải quyết
vì BLDS chưa đề cập về vấn đề này.
+/. Khi thực hiện Điều 652
khoản 5 BLDS “...trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện
ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực...”. Vậy ai là
người (hai người làm chứng, người được hưởng di sản) thực hiện việc công chứng,
chứng thực. Đề nghị bổ sung điều luật quy định nghĩa vụ thực hiện công chứng,
chứng thực của người làm chứng;
+/. Qua thực tiễn giải quyết
các tranh chấp, có nhiều vấn đề yêu cầu mà TA không có căn cứ (Luật nội dung)
để xử lý vì BLDS năm 2005 không quy định, đề nghị cần bổ sung, quy định trong
BLDS,cụ thể:
Bổ sung điều luật quy định
vấn đề vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội... khi áp dụng Điều 128
và 132 BLDS hiện nay;
Thông qua các vướng mắc khi
xử lý tài sản thế chấp, đề nghị BLDS quy định cho các tổ chức tín dụng, ngân
hàng được quyền bán tài sản thế chấp;
Bổ sung điều luật quy định
về việc giải quyết di sản đã hết thời hiệu chia thừa kế, đặc biệt đối với di
sản là quyền sử dụng đất. Hiện nay đang áp dụng Nghị quyết 02/2004 ngày
10/8/2004 của HĐTPTANDTC để chuyển sang tài sản chung nhưng không phù hợp,
không đảm bảo quyền lợi của các hàng thừa kế .
- Về biên chế và trang thiết
bị, kinh phí để phục vụ cho công tác kiểm sát giải quyết các vụ việc dân sự
chưa được quan tâm đúng mức.
3/Đề xuất, kiến
nghị:
- Trong
tiến trình hoàn thiện
pháp luật, các cơ quan nhà nước cần nghiên cứu, sửa đổi tổng thể, đồng bộ các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005, Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản pháp luật có liên quan về xử lý tài sản bảo đảm nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ có bảo đảm trong sự hài hòa lợi ích với các chủ thể khác có liên quan, trong đó
tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu,
tiếp cận các vấn đề về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự dưới góc độ của các
nguyên lý bảo đảm quyền lợi của đương
sự. Việc nghiên cứu này cho phép bên thực thi các quyền xác lập trên tài sản của mình theo quy
định của pháp luật. Đồng thời giúp các bên tham gia giao dịch có khả năng tự mình xử lý khối tài sản
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và thu hồi lợi ích của mình trong thời gian thực hiện hợp đồng.
- Rà soát để
bãi bỏ những quy định không phù hợp với thực tiễn hoặc hạn chế các chủ thể
thiết lập, thực hiện các giao dịch bảo đảm, ví dụ như: quy định “về giá trị của
tài sản so với tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (khoản 1 Điều 324 Bộ luật
Dân sự 2005) hay quy định giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bên nhận
thế chấp giữ trong trường hợp thế chấp quyền sử dụng đất (khoản 1 Điều 717,
khoản 5 Điều 718 Bộ luật Dân sự 2005)...; bãi bỏ các quy định về giao dịch bảo
đảm còn mâu thuẫn, chưa thống nhất, ví dụ như cách thức xử lý tài sản bảo đảm
là quyền sử dụng đất (Luật Đất đai năm 2003 quy định trong trường hợp không xử
lý được theo thoả thuận thì quyền sử dụng đất được bán đấu giá, trong khi đó Bộ
luật Dân sự 2005 quy định bên nhận bảo đảm phải khởi kiện tại Toà án); nghiên
cứu bổ sung một số quy định nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ví dụ như: những
quy định bảo vệ quyền kiểm soát tài sản thế chấp do bên thế chấp hoặc người thứ
ba đầu tư hay bổ sung quy định về xác định tư cách thành viên hộ gia đình,
thống nhất tên gọi và nội dung của việc người sử dụng đất dùng quyền sử dụng
đất của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác của Luật Đất đai 2003
và Bộ luật Dân sự 2005, nghiên cứu bổ sung cơ chế cơ quan thi hành án tham gia
vào quá trình thu giữ tài sản bảo đảm trong giai đoạn tiền tố tụng... Việc sửa
đổi, bổ sung các quy định nêu trên sẽ góp phần giảm thiểu những rủi ro pháp lý, cản trở việc thực
thi quyền xử lý tài sản bảo đảm của bên nhận bảo đảm.
- Nghiên cứu áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn
nhằm rút ngắn thời gian giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quá trình xử
lý tài sản bảo đảm, giảm chi phí xử lý tài sản bảo đảm, đồng thời giảm thiểu
nguy cơ rủi ro thanh khoản do nợ xấu tăng cao. Thực tiễn cho thấy, bên nhận bảo
đảm không chỉ quan tâm đến kết quả xử lý tài sản bảo đảm mà còn quan tâm đến
thời điểm thu hồi được vốn vay khi xử lý tài sản bảo đảm.
- Cần
quy định chính xác, toàn diện thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các chủ thể có
quyền, lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm, góp phần đảm bảo tính an toàn
pháp lý cho các bên khi tham gia giao dịch bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân
sự. Ngoài ra, Nhà
nước cần xây dựng cơ chế thi hành án dân sự hiệu quả, đảm bảo thực thi kết quả xử lý tài sản bảo
đảm trong thời gian sớm nhất với chi phí thấp nhất, từ đó tạo cơ sở cho bên
nhận bảo đảm được thực hiện ngay các quyền hợp pháp của mình đối với tài sản bảo đảm như: quyền thu hồi tài sản, quyền nhận chính
tài sản bảo đảm, quyền
bán tài sản.
- Cần
quan tâm hơn nữa về bồi dưỡng nghiệp vụ và trang bị phương tiện, kinh phí cho
cán bộ, kiểm sát viên thực hiện công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự./.
Nguyễn Thị Nhài
VKSND huyện Thống Nhất