Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ VIỆC TRẢ HỒ SƠ ĐIỀU TRA BỔ SUNG GIỮA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG TẠI HUYỆN THỐNG NHẤT TỪ NĂM 2011 ĐẾN NĂM 2013.

I. Những vấn đề lý luận về trả hồ sơ điều tra bổ sung và căn cứ pháp lý: 1. Khái niệm về trả hồ sơ điều tra bổ sung: Trả hồ sơ điều tra bổ sung là biện pháp tố tụng do Viện kiểm sát hoặc Tòa án được áp dung trong quá trình giải quyết vụ án, nhằm đảm bảo việc điều tra, truy tố sau khi đã kết luận điều tra vụ án, trước khi có cáo trạng. Luật không quy định về thời hạn để Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung trong thời hạn quyết định truy tố hay cả trong thời hạn gia hạn thời hạn truy tố. Việc trả hồ sơ điều tra bổ sung được thực hiện bằng quyết định trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung của Viện kiểm sát.

2. Căn cứ pháp luật:

Khỏan 2 Điều 121 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định “ trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra không quá hai tháng; nếu do Tòa án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra không quá 01 tháng, Viện kiểm sát hoặc Tòa án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần. Thời hạn điều tra được tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra”.

Khỏan 1 Điều 166 của Bộ luật tố tụng hình sự quy định trong thời hạn truy tố kể cả trong thời hạn gian hạn quyết định truy tố, nếu có căn cứ quy định tại điều 169 của Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Cơ quan Cảnh sát điều tra khi nghiên cứu hồ sơ vụ án phát hiện thấy:

- Còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được ;

- Có căn cứ để khởi tố bị can về  một tội khác hoặc có người đồng phạm khác.

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 179 Bộ luật tố tụng hình sự quy định những trường hợp thẩm phán ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát gồm:

- Khi cần xem xét thêm những chứng cứ quan trọng đối với vụ án ,à không thể bổ sung tại phiên tòa được.

- Khi có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác hoặc có đồng phạm khác.

- Khi phát hiện có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Như vậy sau khi nhận được hồ sơ vụ án được trả lại để điều tra bổ sung, cơ quan Cảnh sát điều tra phải xem xét ngay việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với các bị can. Theo quy định tại điều 121 Bộ luật TTHS thì thời hạn tạm giam không được qáu thời hạn  điều tra bổ sung do Viện kiểm sát hoặt Tòa án trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung.

3. Các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung:

Căn cứ vào Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA ngày 27/8/2010 của viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung qui định các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung gồm:

- Khi có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:

- Khi còn thiếu hoặc còn thiếu những chứng cứ quan trọng mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được hoặc không thể bổ sung được tại phiên tòa.

- Khi có căn cứ cho rằng bị cáo phạm một một tội khác hoăc có đồng phạm khác.

- Có căn cứ để khởi tố bị can về một tội phạm khác hoặc có người đồng phạm khác.

Như vậy, quá trình kiểm sát điều tra vụ án hình sự, Kiểm sát viên phải có trách nhiệm thường xuyên bám sát hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ của điều tra viên, chủ động đề ra yêu cầu điều tra hoặc trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật đảm bảo việc điều tra, thu thập chứng cứ vụ án đầy đủ, đúng pháp luật, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung trong các giai đoạn tố tụng hình sự.

II. Thực trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự huyện Thống Nhất từ năm 2011 đến năm 2013:

1 -Thực trạng:

Bộ luật tố tụng hình sự và Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA ngày 27/8/2010 của viện kiểm sát nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Công an hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung qui định các trường hợp trả hồ sơ điều tra bổ sung. Nhưng trên thực tế cách hiểu và vận dụng pháp luật trong vấn đề trả hồ điều tra bổ sung theo điều 168 BLTTHS là rất khác nhau trong trương hợp thứ nhất: trả hồ sơ khi nhận thấy còn thiếu những chứng cứ quan trọng đối với những vụ án mà viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được. Quy định này dễ cho chúng ta nhận thức trong vụ án có những chứng cứ quan trọng, có những chứng cứ không quan trọng, hoặc có những chứng cứ quan trọng hơn, chứng cứ ít quan trọng. Theo quy định của pháp luật về chứng cứ, mọi  chứng cứ trong vụ án hình sự đều quan trọng như nhau, các tình tiết thu được chỉ có giá trị chứng cứ khi nó phù hợp với các chứng cứ khác. Ngay cả các tình tiết thu được từ lời nhận tội của bị can, hoặc thu được từ bản kết luật giám định cũng không phải là chứng cứ quan trọng nhất nếu nó không phù hợp với các chứng cứ khác. Vì vậy, cách hiểu chứng cứ quan trọng ít nhiều đã ảnh hưởng đến việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Nhiều hồ sơ bị trả lại do hồ sơ còn thiếu  những tài liệu phản ánh về tình trạng tài sản của bị can nên không thể quyết định hình phạt được (trong trường hợp bị can bị truy tố về tội phạm mà khung hình phạt có quy định hình phạt tiền là hình phạt chính). Lý do cơ bản của hiện tượng này  là do những thay đổi của Bộ luật hình sự năm 1999 về hình phạt tiền so với quy định  trong bộ luật hình sự năm 1985, khi quyết hình phạt tiền không cần quyết định đến tình trạng tài sản của người bị kết án. Do vậy trong thực tiễn có những bản án phạt tiền không thi hành được, nhiều trường hợp phạt tiền chỉ được tuyên cho có, không có tính khả thi. Có cơ quan cho rằng cần phải xác minh tình trạng tài sản, có cơ quan cho rằng đây không phải là chứng cứ quan trọng để quyết định việc truy tố hay không có tội, tội phạm gì và theo điều khoản nào của Bộ luật hình sự.

Ở một số Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, thành phố qua khảo sát cho thấy tình trạng trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng đã đến mức báo động. Có đơn vị nghiệp vụ trong 06 tháng đầu năm đã trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra yêu cầu điều tra bổ sung chiếm tỷ lệ 4% số án thụ lý. Đặc biệt còn để xẩy ra tình trạng án trả hồ sơ điều tra bổ sung nhiều lần, có vụ án trả 02 lần thậm chí 03 lần, vi phạm nghiêm trọng Luật tố tụng hình sự. Ngoài ra một số địa phương để kéo dài thời hạn điều tra bổ sung dẫn đến quá hạn tạm giam hoặc kéo dài thời hạn truy tố.

Theo số liệu tổng kết của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất từ năm 2011 đến năm 2013 thì tỷ lệ án trả hồ sơ điều tra bổ sung như sau:

*. Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung:

- Năm 2011: 03 vụ 04 vị can.

- Năm 2012: 01 vụ – 02 bị can.

- Năm 2013: 02 vụ – 04 bị can.

*. Tòa án trả hồ sơ điều tra bổ sung:

- Năm 2011: 02 vụ – 05 bị cáo.

- Năm 2012: 01 vụ 02 bị cáo.

- Năm 2013: 01 vụ – 02 bị cáo.

2. Phân tích lý do trả hồ sơ điều tra bổ sung:

* Trong 3 năm qua (2011-2013) Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung 04 vụ – 09 bị cáo. Trong đó trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng cứ 03 vụ –04 bị cáo, về khởi tổ bổ sung 01 vụ – 5 bị cáo.

Trong đó Tòa án trả đúng 03 vụ – 04 bị cáo. Viện kiểm sát đã điều tra khởi tố bổ sung bị can 04 BC. Tòa án trả sai VKS giữa nguyên quan điểm truy tố chuyển lại Tòa và tòa đã xét xử 01 vụ – 05 BC.

Ví dụ: -Vụ Nguyễn Ngọc Minh Tuấn cùng đồng bọn can tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Toà án trả hồ sơ yêu cầu xác định thẩm quyền xét xử của vụ án. Tòa án trả hồ sơ trong thời hạn quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS.

Sau khi nghiên cứu, VKS xét thấy lý do trả hồ sơ của Tòa là chưa đúng căn cứ luật định, nên VKS đã tổ chức họp liên ngành và xin ý kiến thỉnh thị của VKSND tỉnh, sau đó có công văn giữ nguyên qua điểm truy tố.

- Vụ  Phạm Vũ Nhật Linh can tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”, Tòa án trả hồ sơ yêu cầu khởi tố bổ sung 01 bị can. Tòa án trả hồ sơ trong thời hạn quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS. Sau khi nhận hồ sơ điều tra bổ sung, VKS đã tổ chức họp liên ngành tố tụng hình sự huyện, do quan điểm liên ngành không thống nhất nên VKSND huyện đã có Công văn xin ý kiến thỉnh thị của VKSND tỉnh. Sau đó VKSND huyện đã trả hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện để khởi tố bổ sung 01 bị can Phạm Ngọc Duy theo chỉ đạo của liên ngành tố tụng tỉnh.

* VKSND huyện đã trả hồ sơ điều tra bổ sung cho CQCSSĐT 06 vụ – 11 bị can. Trong đó trả hồ sơ để điều tra bổ sung về chứng cứ  01 vụ – 01 bị can, về có người đồng phạm khác khởi tố bổ sung bị can 02 vụ – 04 bị can,  nhập vụ án 01 vụ – 02 bị can, thay đổi tội danh 02 vụ 03 bị can.

Các vụ án VKS trả hồ sơ yêu cầu CQCSĐT điều tra bổ sung đều có căn cứ và đúng quy định. Cơ quan CSĐT đã điều tra bổ sung theo yêu cầu của VKS, kết quả: Đã chuyển VKS đề nghị truy tố 06 vụ – 14 BC.

- Vụ Trần Thị Kim Thoa cùng đồng bọn - can tội “Công nhiên chiếm đoạt  tài sản”. VKS trả hồ sơ yêu cầu CQĐT thay đổi tội danh từ tội “Cưỡng đoạt tài sản”, sang tội “Công nhiên chiếm đoạt  tài sản”. Kết quả hiện nay đã điều tra bổ sung và truy tố Ví dụ: -Vụ Nguyễn Ngọc Minh Tuấn cùng đồng bọn can tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Toà án trả hồ sơ yêu cầu xác định thẩm quyền xét xử của vụ án. Tòa án trả hồ sơ trong thời hạn quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS.

Sau khi nghiên cứu, VKS xét thấy lý do trả hồ sơ của Tòa là chưa đúng căn cứ luật định, nên VKS đã tổ chức họp liên ngành và xin ý kiến thỉnh thị của VKSND tỉnh, sau đó có công văn giữ nguyên qua điểm truy tố.

- Vụ  Phạm Vũ Nhật Linh can tội “Cố ý gây thương tích” và “Chống người thi hành công vụ”, Tòa án trả hồ sơ yêu cầu khởi tố bổ sung 01 bị can. Tòa án trả hồ sơ trong thời hạn quy định tại khoản 02 điều 176 Bộ luật TTHS. Sau khi nhận hồ sơ điều tra bổ sung, VKS đã tổ chức họp liên ngành tố tụng hình sự huyện, do quan điểm liên ngành không thống nhất nên VKSND huyện đã có Công văn xin ý kiến thỉnh thị của VKSND tỉnh. Sau đó VKSND huyện đã trả hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an huyện để khởi tố bổ sung 01 bị can Phạm Ngọc Duy theo chỉ đạo của liên ngành tố tụng tỉnh.

- Vụ Nguyễn Đức Thắng – can tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. VKS trả hồ sơ yêu cầu Cơ quan Điều tra bổ sung thay đổi tội danh từ tội “Cố ý gây thương tích” sang tội “Cố ý gây thương tích trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”. Kết quả vụ án đã kết thúc điều tra bổ sung, truy tố, xét xử xong.

Đối với cả 2 vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung trên, Cơ quan điều tra đã đồng ý với quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung theo yêu cầu của Viện kiểm sát. Việc kết thúc điều tra bổ sung của cơ quan điều tra trong hạn luật định. Nguyên nhân do ban đầu quan điểm nhận định về tội danh giữa Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án chưa thống nhất.

 

3. Phân tích nguyên nhân, trách nhiệm dẫn đến việc điều tra bổ sung: 

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng việc trả hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung giữa các ngành tố tụng thì có nhiều, song chủ yếu tập trung ở những nguyên nhân chính sau đây:

3.1-  Nguyên nhân khách quan:

- Tội phạm diễn biến ngày một phức tạp, quy mô, tính chất, mức độ phạm tội , thủ đoạn hoạt động phạm tội ngày càng tinh vi, nhiều vụ án phạm tội có tổ chức với nhiều đối tượng tham gia, phạm tội trên nhiều địa bàn rộng lớn, việc điều tra xác minh tội phạm gặp nhiều khó khăn, các thủ tục tố tụng và chứng cứ thu thập chưa đáp ứng được nội dung yêu cầu chứng minh tội phạm; mặt khác tính dân chủ trong hoạt động tố tụng ngày càng cao. Vì vậy, việc trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung chứng cứ, thủ tục tố tụng đối với các vụ án là cần thiết và đúng quy định pháp luật.

- Một số điều luật trong BLTTHS quy định chưa phù hợp về thời hạn điều tra, truy tố, xét xử… dẫn đến có một số vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, số lượng bị can đông, hành vi phạm tội xảy ra ở nhiều địa phương khác dẫn đến khó khăn khi thực hiện.

- Quan điểm nhận thức, đánh giá chứng cứ của một số ĐTV, KSV, Thẩm phán và giữa các cơ quan tiến hành tố tụng chưa thống nhất.

- Có những vụ án khi xét xử phát sinh tình tiết mới có liên quan đến chứng cứ buộc tội, gỡ tội hoặc phát hiện bỏ lọt tội phạm nên cần phải hoãn phiên tòa và trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung.

- Một nguyên nhân khác có tác động đến tư tưởng và trách nhiệm của Kiểm sát viên trong quá trình tố tụng là khi Quốc hội ra Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 về thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ở một số địa phương tỏ ra quá thận trọng trong việc đấu tranh xử lý tội phạm, xuất hiện tư tưởng né tránh đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng ở một số địa phương tỏ ra qua thận trọng trong việc đấu tranh xử lý tội phạm, xuất hiện tư tưởng né tránh đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan tiến hành tố tụng bằng việc tìm ra mọi lý do để trả hồ sơ, mặc dù lý do không thực sự thuyết phục và không có căn cư.

3.2- Nguyên nhân chủ quan:

- Qua việc VKS trả hồ sơ điều tra bổ sung cho thấy quá trình kiểm sát điều tra, viện kiểm sát đã thường xuyên đốc thúc điều tra, có công văn yêu cầu điều tra nhưng Điều tra viên không thực hiện đầy đủ các yêu cầu của Viện kiểm sát và trong quá trình điều tra còn nhiều khoảng thời gian bỏ trống không tiến hành các bước điều tra theo quy định tố tụng nên phải gia hạn điều tra, kéo dài thời gian giải quyết vụ án mà vẫn không làm rõ được nội dung và các tình tiết trong vụ án dẫn đến sau khi kết thúc điều tra Viện kiểm sát phải trả hồ sơ điều tra bổ sung.

- Ý thức trách nhiệm, năng lực nghiệp vụ của một số Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán chưa cao, chưa đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ. Quá trình giải quyết án một số cán bộ chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quy trình nghiệp vụ cũng như quy định của BLTTHS trong việc thu thập, bảo quản chứng cứ, lấy lời khai, hỏi cung…

- Lãnh đạo đơn vị có lúc chưa kịp thời kiểm tra, đôn đốc Kiểm sát viên, Điều tra viên cũng như chưa trực tiếp nghiên cứu hồ sơ vụ án. Một số Kiểm sát viên, Điều tra viên khi báo án chưa báo hết, đầy đủ các nội dung tình tiết của vụ án nên gây khó khăn cho việc chỉ đạo nghiệp vụ, dẫn đến chỉ đạo không sâu, không phát hiện thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ, tội danh…

- Lãnh đạo liên ngành chưa thật sự dành nhiều thời gian để quan tâm, kiểm tra, chỉ đạo, nắm bắt tiến độ điều tra, chưa đánh giá kịp thời những diễn biến khó khăn, thuận lợi của vụ án để bố trí cán bộ một cách hợp lý nhằm vừa phát huy được năng lực, trách nhiệm của cán bộ, vừa hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn. Vì vậy không phát hiện kịp thời những thiếu sót trong công tác điều tra, dẫn đến chậm phát hiện những thiếu sót trong việc đánh giá chứng cứ, định tội danh… dẫn đến phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

- Một số điều tra viên chưa cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, kịp thời tài liệu cho Kiểm sát viên nên Kiểm sát viên không phát hiện được hồ sơ cần điều tra thêm những vấn đề gì. Vì vậy, không kịp thời đề ra yêu cầu điều tra, dẫn đến khi hồ sơ chuyển qua Viện kiểm sát không đủ chứng cứ, không đầy đủ thủ tục tố tụng và bỏ lọt hành vi phạm tội mà VKS không tự khắc phục được. Một số trường hợp đã có yêu cầu điều tra nhưng ĐTV không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ song Kiểm sát viên không kiên quyết yêu cầu Điều tra viên phải thực hiện đầy đủ.

- Một số trường hợp Kiểm sát viên còn thụ động chờ việc, chưa chủ động nghiên cứu hồ sơ, hoặc nghiên cứu không sâu nên không phát hiện được những vấn đề cần thiết phải bổ sung vào hồ sơ vụ án (chứng cứ, lý lịch tư pháp, thay đổi tội danh…) nên khi truy tố hồ sơ chuyển tòa mới phát hiện.

- Một số trường hợp hồ sơ chỉ thiếu những chứng cứ, thủ tục đơn giản có thể khắc phục được ngay nhưng tòa vẫn trả hồ sơ yêu cầu ĐTBS.

- Tình hình diễn biến tội phạm ngày càng phức tạp, số án thụ lý tăng nhưng thiếu biên chế, cán bộ có chức năng pháp lý (Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán); chính sách đãi ngộ đối với cán bộ trực tiếp giải quyết án chưa hợp lý, trong khi họ lại luôn chịu áp lực của công việc.

- Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán chưa được thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn về nghiệp vụ.

3.3- Trách nhiệm đối với việc trả hồ sơ điều tra bổ sung:

* Viện kiểm sát: Với chức năng, nhiệm vụ của VKSND được quy định tại Điều 12, Luật tổ chức VKSND năm 2002 thì dù ở bất kỳ giai đoạn tố tụng nào đều thuộc trách nhiệm của VKSND. Đôi lúc Kiểm sát viên còn thụ động, trông chờ vào kết quả điều tra, chưa thực hiện KSĐT ngay từ đầu, có những vụ án tuy có yêu cầu điều tra nhưng yêu cầu điều tra còn sơ sài, chung chung, không đầy đủ, rõ ràng. Quá trình điều tra chưa thực sự đeo bám dẫn đến kết quả điều tra chưa đáp ứng được yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử.

* Cơ quan Cảnh sát điều tra: Quá trình điều tra chưa làm hết chức năng, nhiệm vụ theo quy định của BLTHS. Mặc dù Viện kiểm sát đã có công văn và kế hoạch yêu cầu điều tra nhưng CQĐT thực hiện không đầy đủ. Quá trình điều tra không tích cực, hồ sơ khởi tố rồi để trống khoảng thời gian dài khi sắp hết hạn điều tra mới làm.

* Tòa án: Chưa thật sự phối hợp, có nhiều trường hợp có thể trao đổi, bổ sung không nhất thiết phải trả hồ sơ nhưng TA vẫn trả, có nhiều trường hợp TA trả không đúng nên VKS vẫn giữ nguyên quan điểm và đã được TA xét xử.

III. Những giải pháp kiến nghị nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng:

1. Trong công tác THQCT, KSĐT, KSXX các vụ án hình sự:

- Nâng cao ý thức trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, kiểm sát viên trong việc thực hiện quy chế nghiệp vụ của ngành, quy chế thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra hình sự; quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử án hình sự.

- Thực hiện kiểm sát điều tra ngay từ đầu, nắm chắc tiến độ điều tra của cơ quan điều tra, nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, kịp thời định hướng và đề ra các yêu cầu điều tra trong thời hạn điều tra. Khi cần thiết phải tiến hành áp dụng ngay các biện pháp nghiệp vụ như: Kiểm sát khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thu thập dấu vết, thu giữ vật chứng… để nắm chắc diễn biến vụ án.

- Khi cơ quan điều tra đề nghị phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, cần phải nghiên cứu kỹ hồ sơ, khi đủ căn cứ mới đề xuất lãnh đạo ký phê chuẩn, nếu chưa đủ thì yêu cầu cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, không đề nghị phê chuẩn khi chưa đủ căn cứ hoặc chứng cứ chưa vững chắc.

- Khi phân công kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra đối với vụ án phải căn cứ vào năng lực, trách nhiệm và yêu cầu nghiệp vụ đối với từng vụ án để phân công.

2. Trong công tác phối hợp:

- Xây dựng tốt mối quan hệ phối hợp giữa ba ngành, duy trì đều đặn chế độ giao ban liên ngành để phối hợp khắc phục thiếu sót trong quá trình giải quyết án. Hàng tháng cần tổng hợp những vi phạm trong cả ba giai đoạn (điều tra, truy tố, xét xử) để rút kinh nghiệm trong các cuộc giao ban liên ngành. Lãnh đạo cần chỉ đạo, kiểm điểm làm rõ trách nhiệm về những thiếu sót đến từng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thâm phán để cùng rút kinh nghiệm nhằm không để xảy ra những sai phạm tương tự.

- Trường hợp Tòa án trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung không đúng, có tỷ lệ cao thì Viện trưởng VKS cần có văn bản kiến nghị với Chánh án tòa án yêu cầu rút kinh nghiệm để hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không theo đúng quy định của pháp luật.

- Những vụ án điểm, phức tạp, có vướng mắc về chứng cứ, thủ tục tố tụng cần tổ chức họp liên ngành. Sau khi họp nếu không khắc phục được mới trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

- Đối với những trường hợp hồ sơ vụ án thiếu chứng cứ nhưng không phải là chứng cứ quan trọng đối với vụ án hoặc có vi phạm tố tụng nhưng không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ trao đổi, phối hợp để hoàn thiện hồ sơ vụ án mà không cần thiết phải trả hồ sơ điều tra bổ sung, làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án.

- Nếu việc điều tra bổ sung phức tạp, cơ quan yêu cầu điều tra bổ sung và cơ quan thực hiện điều tra bổ sung cần họp, bàn thống nhất thực hiện để việc điều tra bổ sung đảm bảo đầy đủ, kịp thời, tránh việc trả đi trả lại nhiều lần.

3.  Những giải pháp khác:

- VKS huyện đã tổ chức họp, kiểm điểm, rút kinh nghiệm đồng thời xác định nguyên nhân, trách nhiệm trong việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

- Yêu cầu kiểm sát viên, chuyên viên thực hiện kiểm sát điều tra cần nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm đồng thời tập trung làm tốt hơn nữa công tác kiểm sát điều tra, truy tố để đảm bảo hồ sơ chặt chẽ, chính xác nhằm hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

- Đội ngũ cán bộ, KSV, ĐTV, TP làm công tác giải quyết án phải luôn tu dưỡng, rèn luyện để không ngừng nâng cao năng lực nghiệp vụ, trình độ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của người cán bộ trong việc thực hiện nghiệp vụ.

4 - Một số kiến nghị.

2.1 - Đối với Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra và Toà án:

- Để đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ và thực hiện tốt chức năng điều tra, truy tố, viện kiểm sát và cơ quan  điều tra có sự chủ động bố trí đội ngũ cán bộ có năng lực nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác nhất là đội ngũ điều tra viên, kiểm  sát viên.

- Hệ thống hóa các văn bản pháp luật hình sự đang có hiệu lực trên các lĩnh vực nghiệp vụ để tiện tra cứu vận dụng. Tổ chức tập huấn các chuyên đề chuyên sâu về nghiệp vụ điều tra, kiểm sát điều tra nhằm tạo sự chuyển biến mới trong nhận thức, ý thức trách nhiệm để thực hiện tốt nhiệm vụ.

- Tăng biên chế và cơ sở vật chất cho các đơn vị nhất là các đơn vị có lượng án lớn, các đơn vị được tăng thẩm quyền.

2.2 - Đối với liên ngành Trung ương:

Phối hợp trong việc nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số thông tư liên tịch hướng dẫn một số điều của bộ luật hình sự trước đây không còn phù hợp với thực tế và diễn biến của tình hình tội phạm. Xây dựng thông tư liên ngành đẻ hướng dẫn giải thích thuật ngữ trong các điều luật: điêu 140 BLHS quy định về tội “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Điều 155 về tội “sản xuất vận chuyển mua bán hàng cấm”, điều 248 về tội “Đánh bạc” và các tội phạm về ma túy, về kinh tế… từ việc các điều luật được hướng dẫn, giải thích một cách cụ thể, giúp các ngành vận dụng khi xử lý vụ án, tránh trường hợp hồ sơ phải kéo dài, hoặc trả đi trả lại vì chưa thống nhất nhận thức về pháp luật mà phải chờ xin ý kiến hướng dẫn của cấp trên.

Như vậy, trả hồ sơ để điều tra bổ sung là một hoạt động tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự nhằm đảm bảo cho việc điều tra, truy tố, xét xử một cách chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không bỏ lọt tội phạm, không làm oan sai người vô tội. Trong thời gian qua, nhìn tổng thể, công tác kiếm sát điều tra trong một số vụ án còn nhiều thiếu sót về thu thập chứng cứ, xác định tội danh,… dẫn đến xác định phương hướng điều tra và đường lối giải quyết vụ án không đúng. Tình hình này đòi hỏi các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải chú trọng thực hiện tốt hơn nữa trong công tác này. Qua đó, không những góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ pháp chế, bảo vệ công lý, mà còn bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan, sai người vô tội./.

                                                         Nguyễn Bá Thái

                                                                     VKSND huyện Thống Nhất

Các tin khác

    There are no items to show in this view.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Trong ngày:
Tất cả:

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Chịu trách nhiệm nội dung: Đồng chí Ngô Hữu Nghĩa - Phó Viện trưởng VKSND tỉnh

Địa chỉ: Số 1/6K đường Nguyễn Ái Quốc, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai (Trụ sở chính)

Số 412 đường Huỳnh Văn Nghệ, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai (Cơ sở 2)

Điện thoại: 0251.8820.275 - Fax: 02513.825376​ - Email: tk_dongnai@vks.gov.vn