Thứ 6 - 26/02/2016
Màu đỏ Màu xanh nước biển Màu vàng Màu xanh lá cây
Nhiệt liệt chào mừng ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031!
Những khó khăn trong công tác thi hành án dân sự.

Trong quá trình kiểm sát công tác thi hành án dân sự, chúng tôi có khó khăn vướng mắc cụ thể như sau:
         Căn cứ Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 27/2013/QĐST-HNGĐ ngày 26/02/2013 của Tòa án nhân dân huyện TN công nhận sự thỏa thuận giữa bị đơn chị Đặng Xuân B, sinh năm 1988 với nguyên đơn anh Trần Ngọc H, sinh năm 1987, cùng trú tại xã HL, huyện TN, tỉnh ĐN. “…. Về con chung:  Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Ngọc TB, sinh ngày 23/12/2009, Hai bên thoả thuận giao cho chị B được chăm sóc, nuôi dưỡng cháu TB, anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị Đặng Xuân B với số tiền 700.000 đồng/tháng, thời hạn cấp dưỡng từ ngày 18/12/2009 đến ngày cháu Trần Ngọc TB tròn 18 tuổi….”

Trên cơ sở đơn yêu cầu thi hành án của chị Đặng Xuân B, ngày 17/6/2013 Chi cục thi hành án dân sự huyện TN ra Quyết định thi hành án theo đơn yêu cầu số 72/QĐ-CCTHA buộc anh Trần Ngọc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Trần Ngọc TB, sinh ngày 23/12/2009 mỗi tháng 700.000 đồng, thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày 18/02/2013 cho đến khi cháu TB tròn 18 tuổi và phân công chấp hành viên thi hành.

Đến tháng 06/2013, do chị Đặng Xuân B phải đi làm ăn ở xa, không có thời gian và điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Ngọc TB, nên chị B đã giao cháu TB cho anh Trần Ngọc H và bà Nguyễn Thị Thùy V (là mẹ ruột của anh Trần Ngọc H) trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Ngày 8/8/2014 chị B làm đơn gửi Chi cục thi hành án dân sự huyện TN về việc không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung và đề nghị Chi cục thi hành án dân sự huyện TN trả đơn yêu cầu thi hành án cho chị B với lý do nêu trên. Chi cục thi hành án dân sự huyện TN đã làm việc với chị B, anh H và các bên đều xác nhận anh H và bà V đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu TB từ tháng 6/2013 đến nay.

Ngày 11/8/2014 Chi cục thi hành án dân sự huyện TN căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/02/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật thi hành án dân sự và ra Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 11/QĐ-CCTHA cho chị Đặng Xuân B.

Để tổ chức thi hành vụ việc này, hiện nay có một số ý kiến xin trao đổi để các đồng nghiệp cùng tham khảo và đóng góp ý kiến nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như quyền lợi của cháu TB là đối tượng trong quan hệ nuôi dưỡng, cấp dưỡng.

THA thongnhat.JPG


          Ý kiến thứ nhất: Chi cục thi hành án dân sự huyện TN căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/02/2013 của Chính phủ ra Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án cho chị Đặng Xuân B là đúng quy định của Luật thi hành án dân sự, bởi lẽ: Giữa chị B với anh H đã có biên bản thỏa thuận về việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung và trên thực tế chị B đã giao cháu B cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ tháng 6/2013. Mặt khác, để đảm bảo quyền tiếp tục yêu cầu thi hành án của chị B nếu anh H không thực hiện đúng theo như sự thỏa thuận. Ý kiến này là hợp tình nhưng theo chúng tôi cho rằng chưa hợp lý, bởi: Về căn cứ pháp luật, việc anh H và chị B thỏa thuận việc không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con như đã nêu ở trên được thực hiện sau khi đã có quyết định thi hành án, nhưng Chi cục thi hành án dân sự huyện TN  căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/02/2013 của Chính phủ để ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án cho chị B là không đúng. Mặt khác, căn cứ Điều 51 Luật thi hành án dân sự thì trường hợp này không thuộc diện trả đơn yêu cầu thi hành án.

Ý kiến thứ hai: Chi cục thi hành án dân sự huyện TN đã căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/02/2013 của Chính phủ để ra Quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số 11/QĐ-CCTHA ngày 11/8/2014 cho người được thi hành án chị Đặng Xuân B là không đúng với các căn cứ trả đơn yêu cầu thi hành án theo quy định tại Điều 51 Luật thi hành án dân sự, bởi lẽ: Chi cục thi hành án dân căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Nghị định 125/2013/NĐ-CP ngày 14/02/2013 của Chính phủ, là không phù hợp với điểm c khoản 1 Điều 50 Luật thi hành án dân sự, trường hợp người được thi hành án chị B có đơn yêu cầu không tiếp tục việc thi hành án thì đình chỉ thi hành án. Mặt khác chị B không trực tiếp chăm sóc, giáo dục đối với cháu TB, mà đã giao cháu TB cho anh H chăm sóc nuôi dưỡng từ tháng 6/2013 đến nay, nên việc rút đơn, không yêu cầu thi hành án của chị B trên thực tế không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cháu TB. Do vậy, đây thuộc trường hợp phải đình chỉ thi hành án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật thi hành án dân sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này.

Tóm lại, hiện nay giữa các quy định của pháp luật còn có nhiều bất cập và thiếu đồng bộ trong việc điều chỉnh các quan hệ pháp luật, quan hệ xã hội phát sinh. Xuất phát từ vụ việc thực tiễn nêu trên, chúng tôi kính mong nhận được sự quan tâm chia sẻ, đóng góp ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, đồng nghiệp và bạn đọc./.

                                                          Nguyễn Bá Thái

               Kiểm sát viên VKSND huyện Thống Nhất

Các tin khác

    There are no items to show in this view.

Liên kết webiste

Thăm dò ý kiến

Đánh giá về trang thông tin điện tử Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai

 

Số lượt truy cập

Save Conflict. Your changes conflict with those made concurrently by another user. If you want your changes to be applied, click Back in your Web browser, refresh the page, and resubmit your changes.Trong ngày:
Tất cả:

TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Chịu trách nhiệm nội dung: Đồng chí Ngô Hữu Nghĩa - Phó Viện trưởng VKSND tỉnh

Địa chỉ: Số 1/6K đường Nguyễn Ái Quốc, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai (Trụ sở chính)

Số 412 đường Huỳnh Văn Nghệ, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai (Cơ sở 2)

Điện thoại: 0251.8820.275 - Fax: 02513.825376​ - Email: tk_dongnai@vks.gov.vn