I- QUI ĐỊNH CHUNG
1. Viện kiểm sát nhân dân có chức năng, nhiệm vụ kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thực
hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm
bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao
động, hành chính kịp thời đúng pháp luật.
2. Tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân
sự, phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án thu thập chứng cứ hoặc đối
tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở
hoặc một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể
chất, tâm thần.
3. Tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc
thẩm, tái thẩm vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động; Tham gia phiên
toà, phiên họp giải quyết vụ án hành chính.
II- QUY ĐỊNH CỤ THỂ
1. Kiểm sát việc thông báo thụ lý của
Toà án:
* Đối với vụ việc dân sự, kinh doanh thương mại, lao động:
Toà án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát việc thụ
lý vụ án trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án.
* Đối với vụ án hành chính:
Toà án phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát việc thụ
lý vụ án trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án.
Quá thời hạn trên, Toà án không gửi thông báo thụ lý vụ án
thì Viện kiểm sát có quyền kiến nghị toà án khắc phục vi phạm.
2. Kiểm sát việc xác minh, thu thập chứng cứ.
- Viện kiểm sát có thể trực tiếp
hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung
cấp chứng cứ.
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được yêu cầu của Viện kiểm sát, cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản
lý, lưu giữ cung cấp chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng
cứ.
3. Nghiên cứu hồ sơ vụ án chuẩn bị tham gia phiên họp, phiên toà.
- Toà áp phải gửi hồ sơ vụ án cùng
với việc gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử;
- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ
ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ cho Toà án.
4. Tham gia phiên tòa, phiên họp.
Điều 21 Bộ luật
tố tụng dân sự (sửa đổi 2011) Viện kiểm sát nhân dân phải tham gia các phiên
họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên tòa sơ thẩm bao gồm:
+ Những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ;
+ Những vụ án đối tượng tranh chấp là tài sản công,
lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở;
+ Những vụ án một bên đương sự là người chưa thành
niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần;
+ Những phiên tòa, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm,
tái thẩm.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại
phiên tòa sơ thẩm, bao gồm:
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng
trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử;
* Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi
thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm,
bao gồm:
Ngoài nội dung phát biểu như phiên tòa sơ thẩm, còn
phải phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm.
5- Kháng nghị bản án, quyết
định theo thủ tục phúc thẩm:
5.1. Viện
trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án,
quyết định tạm đình chỉ đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu
cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.
5.2. Quyết định
kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản.
5.3. Thời hạn
kháng nghị
*Đối với bản án: Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát trên là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án. Trường
hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày
Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
* Đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ: Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm
sát cùng cấp là 07 ngày, của Viện
kiểm sát trên là 10 ngày, kể từ ngày
Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
6. Kháng nghị theo thủ
tục giám đốc thẩm.
6.1. Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc
thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp huyện.
Có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành, quyết định đã có hiệu lực pháp luật
cho đến khi có quyết định giám đốc thẩm.
6.2. Quyết
định kháng nghị của Viện kiểm sát phải bằng văn bản.
6.3. Thời hạn
kháng nghị giám đốc thẩm:
* Đối với bản án, quyết định trong lĩnh vực án dân sự,
kinh doanh thương mại, lao động là 03 (ba) năm, kể từ ngày bản án, quyết định
có hiệu pháp luật.
Thời hạn trên có thể kéo dài thêm 02 (hai) năm khi có
các điều kiện:
- Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định của pháp
luật và sau khi hết thời hạn kháng nghị vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;
- Cần phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
* Đối với bản án, quyết định trong lĩnh vực án hành
chính là 02 (hai) năm, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu pháp luật./.
VIỆN TRƯỞNG