Sáng ngày 26/02/2026, Toà án nhân dân khu vực 7- Đồng Nai đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo Lê Văn L cùng đồng phạm về các tội “Tàng trữ trái phép chât ma tuý" và "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249, điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Theo Cáo trạng, vào ngày 10/4/2025, tại chòi rẫy của Lương Quốc Th, thuộc tổ 14, ấp 2, xã Thanh Sơn, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn L rủ Lương Quốc Th cùng góp tiền mua ma tuý để về sử dung chung. Do Th chưa có tiền nên L sẽ bỏ ra 400.000 đồng trước để mua ma túy đem về cho cả 2 cùng sử dụng, sau đó Th sẽ bán củi của Th và trả lại cho L 200.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, L điều khiển xe mô tô hiệu Noris, biển số 60FP-0283 từ chòi rẫy nhà Th đi tìm người bán ma tuý để mua. Khi đến ngã ba lô 5 thuộc ấp 2, xã Thanh Sơn, tỉnh Đông Nai, Th dùng điện thoại di động hiệu OPPO số thuê bao 0327.525363 gọi vào số thuê bao 0359.061235 của Q (chưa rõ nhân thân, lai lịch) để hỏi mua ma túy nhưng Q không có ma tuý để bán cho L, L tiếp tuc điều khiển xe mô tô tìm gặp U để mua 400.000 đồng ma tuý, U đồng ý rồi đưa cho L 01 gói ma tuý, L nhận ma tuý và trả tiền mặt cho cho U 400.000 đồng rồi quay lại rẫy nhà Th. Th đưa cho L bộ dụng cụ sử dụng ma tuý và cùng với L chuẩn bị dụng cụ để thực hiện việc sử dụng ma tuý. Ma tuý mua được, L đổ một phần vào nỏ thủy tinh; phần còn lại L hàn kín và cất vào túi áo để L và Th tiếp tục sử dụng cho lần sau.
Trong khi L và Th đang sử dụng ma tuý thì Nguyễn Xuân Đ là bạn của L đến chòi rẫy của Th chơi, được L và Th cho sử dụng ma tuý chung; Đ sử dụng ma tuý xong thì về trước, còn L và Th tiếp tục sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang, thu giữ gói ma túý trong túi áo của L có khối lượng 0,4305 gam, loại Methamphetamine.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, những tài liệu chứng cứ đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án như biên bản bắt người phạm tội quả tang, các bản tự khai, biên bản hỏi cung của bị cáo. Các bị cáo đều biết ma túy là dược liệu hướng thần, chất gây nghiện, nếu đưa vào cơ thể sẽ làm nguy hại cho sức khỏe con người, nhưng vẫn thực hiện các hành vi tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, ảnh hưởng đến nếp sống văn minh và là nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhận định đây là vụ án đồng phạm giản đơn, bị cáo Lê Văn L là người khởi xướng và thực hành tích cực cùng với bị cáo Lương Quốc Th. Cả hai cùng nhau tổ chức cho bản thân và cho Nguyễn Xuân Đ sử dụng trái phép chất ma tuý nên các bị cáo đã phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý", thuộc trường hợp "Đối với hai người trở lên" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Lượng ma túy còn lại mà L cất trong túi áo của L là 0,4305g loại methamphetamin, cả L và Th đều thừa nhận là cất để cả hai sử dụng cho lần tiêp theo nên L và Th còn phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam", theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm, gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến trật tự xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc để răn đe, phòng ngừa chung.
 Hình ảnh phiên toà xét xử vụ án Lê Văn L và đồng phạm. Hình ảnh phiên toà xét xử vụ án Lê Văn L và đồng phạm.
Trên cơ sở đánh giá toàn diện vụ án và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- tỉnh Đồng Nai, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Lê Văn L 2 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tổng hợp hình phạt đối với bị cáo L là 10 năm tù; bị Lương Quốc Th 1 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Th là 09 năm tù;
Quá trình thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thể hiện được bản lĩnh, kỹ năng nghề nghiệp và trình độ chuyên môn vững vàng. Quá trình xét hỏi được tiến hành đúng trọng tâm, làm rõ được bản chất hành vi phạm tội, vai trò và mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của từng bị cáo. Trong phần tranh tụng, Kiểm sát viên lập luận logic, phân tích chứng cứ toàn diện, đánh giá khách quan từng tài liệu, lời khai, kịp thời đối đáp, phản biện thuyết phục các nội dung tranh luận và được Hội đồng xét xử chấp nhận. Qua đó, bảo vệ vững chắc quan điểm truy tố trước Hội đồng xét xử, góp phần nâng cao chất lượng tranh tụng, bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật./.Nguyễn Thị Phước -KSV VKSND KV7- Đồng Nai. |