Ngày 24/11/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kì họp thứ 8 đã thông qua Luật TTHC và NQ số 56/2010/QH12 về việc thi hành Luật TTHC, Chủ tịch nước ký lệnh số 22/2010/L.CTN ngày 07/12/2010 về việc công bố Luật TTHC và kể từ 01/7/2011 Luật TTHC có hiệu lực.
Qua gần 2
năm thực hiện Luật TTHC cho thấy: Tình hình tranh chấp, khiếu
kiện trong lĩnh vực hành chính trên địa bàn tỉnh Đồng Nai có diễn biến phức tạp
và gia tăng so với trước thời điểm Luật TTHC có hiệu lực thi hành. Trong đó nổi
lên là các khiếu kiện về thu hồi đất, giải tỏa, bồi thường và chính sách tái
định cư sau thu hồi đất. Nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp khiếu kiện tăng
lên là do: Luật
TTHC đã quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính.
Theo đó, cá nhân cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với
quyết định hành chính hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với
quyết định đó, hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,
nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu
nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với kết
quả giải quyết đó. Như vậy, thủ tục "tiền tố tụng" đã không
còn là yếu tố bắt buộc đối với hầu hết các khiếu kiện hành chính nữa.
Mặt khác, các
chính sách pháp luật về đất đai, chính sách đền bủ, giải tỏa tuy đã có bước
hoàn thiện nhưng vẫn còn nhiều chồng chéo bất cập, nhất là giá đền bù đã lạc
hậu và không theo kịp với diễn biến của tình hình biến động hiện nay.
Đáp ứng yêu cầu thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân
trong công tác kiểm sát giải quyết các vụ án hành chính..., kế hoạch công tác hàng
năm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã bám sát các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội địa phương và nhấn mạnh: “Hai cấp kiểm sát phải đẩy mạnh công tác kiểm sát giải quyết các vụ, việc
dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, vụ án hành chính; đề ra các biện pháp,
giải pháp nhằm kiểm sát chặt chẽ và nâng cao kỹ năng kiểm sát các bản án, quyết
định của Toà án. Trường hợp phát hiện vi phạm phải kháng nghị, kiến nghị kịp
thời. Tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa chất lượng kháng nghị phúc thẩm,
giám đốc thẩm, nhất là kháng nghị phúc thẩm ngang cấp; phối hợp với Toà án giải
quyết các vụ án phức tạp, có nhiều vướng mắc, nhất là các vụ, việc do Viện kiểm
sát kháng nghị. Bên cạnh đó phải chú trọng tổng hợp vi phạm và phát hiện những
tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước để kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền
khắc phục vi phạm”.
Để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành, Kiểm sát viên, cần phải
nắm vững và thực hiện tốt các yêu cầu về kỹ năng nghiệp vụ sau đây:
1. Kiểm sát việc thụ lý
Xem xét đơn kiện để xác định người khởi kiện
có quyền khởi kiện hay không. Theo quy định tại Điều 103 Luật TTHC, người khởi
kiện vụ án có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức:
+ Cá nhân khởi kiện phải bảo đảm những điều kiện theo
quy định tại Điều 48 của Luật TTHC.
+ Pháp nhân khởi kiện phải thông qua người đại diện
theo quy định của pháp luật theo khoản 5 Điều 48 Luật TTHC. Việc ủy quyền khởi
kiện, tham gia tố tụng phải làm thành văn bản theo quy định của pháp luật.
+ Người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể
chất hoặc tâm thần thực hiện quyền và nghĩa vụ thông qua người đại diện theo
quy định tại Điều 48 Luật TTHC.
- Thông qua đơn
kiện, Kiểm sát viên phải xem xét điều kiện khởi kiện.
+ Để làm rõ các điều kiện khởi kiện, Kiểm sát viên
phải xem xét đối chiếu đơn kiện với quyết định giải quyết khiếu nại hoặc các
tài liệu chứng minh việc người khởi kiện đã khiếu nại, hết thời hạn giải quyết
mà người có thẩm quyền không giải quyết. Nếu thiếu điều kiện trên phải yêu cầu
Tòa án khắc phục ngay.
+ Để xác định bên bị kiện, Kiểm sát viên phải nghiên
cứu đơn kiện, quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật cán
bộ, công chức và quyết định trả lời khiếu nại (nếu có). Bên bị kiện phải là bên
có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hoặc hành vi hành
chính bị khiếu kiện.
- Thẩm quyền
giải quyết của Tòa án: Kiểm sát viên căn cứ vào các quy định tại Điều 28
Luật TTHC để xác định vụ việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay
không.
+ Nếu đối tượng khởi kiện là hành vi hành chính thì
Kiểm sát viên phải xác định hành vi hành chính bị khiếu kiện có phải là hành vi
do chủ thể quản lý hành chính tiến hành khi thực hiện nhiệm vụ công vụ hay
không, đồng thời phải tiếp tục nghiên cứu đối tượng này khi kiểm sát việc lập
hồ sơ vụ án.
+ Kiểm sát viên cần chú ý các trường
hợp đối tượng khởi kiện là quyết định hành chính. Theo khoản 1 Điều 1 Nghị
quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/7/2011 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, quyết
định hành chính bị khiếu kiện phải bảo đảm các điều kiện: Là quyết định cụ thể
cá biệt; là những quyết định trực tiếp gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp
pháp của người khởi kiện mà người khởi kiện được quyền khởi kiện; nội dung của
quyết định hành chính bị khiếu kiện phải được quy định tại Điều 28 của Luật Tố
tụng hành chính, khi phát sinh tranh chấp TAND có thẩm quyền sẽ giải quyết theo
thủ tục tố tụng hành chính.
- Xác định thời
hiệu khởi kiện: Căn cứ vào Điều 104 của Luật TTHC, Kiểm sát viên phải xem
xét thời hiệu khởi kiện còn hay hết.
- Nếu phát hiện chưa đủ điều kiện để thụ lý vụ án,
Kiểm sát viên phải yêu cầu Tòa án khắc phục. Nếu phát hiện các trường hợp không
thụ lý vụ án của TAND có vi phạm pháp luật thì đề xuất biện pháp khắc phục.
2. Kiểm sát lập hồ sơ
- Kiểm tra xác
định tính hợp pháp, kịp thời, đầy đủ, khách quan trong quá trình thu thập
tài liệu, chứng cứ xác minh, lập hồ sơ của Toà án bằng các hoạt động cụ thể:
+ Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu để xác định tính hợp pháp
và giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ.
+ Xác minh thêm hoặc yêu cầu Toà án trưng cầu giám
định, xác minh làm rõ tài liệu, chứng cứ.
+ Sau khi xác định tính hợp pháp của từng tài liệu,
chứng cứ, Kiểm sát viên tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá tính khách quan
của các tài liệu, chứng cứ đó. Nếu tài liệu, chứng cứ thiếu khách quan, chỉ có
lợi cho một bên, thì kịp thời yêu cầu Toà án khắc phục.
- Kiểm tra lại tính hợp
pháp trong việc thụ lý vụ án:
+ Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã thu thập,
Kiểm sát viên kiểm tra lại tính hợp pháp trong việc thụ lý: Người khởi kiện và
quyền khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, đối tượng khởi kiện và nội dung việc kiện
có thuộc thẩm quyền của Toà án hay không.
+ Tập trung nghiên cứu những vướng mắc hoặc thay đổi,
bổ sung của tài liệu, chứng cứ so với hồ sơ ban đầu. Những vấn đề cần được bổ
sung tài liệu, chứng cứ hoặc xác minh thêm nếu không có điều kiện tự mình tiến
hành thì yêu cầu Toà án khắc phục. Trường hợp hồ sơ vụ án chưa đủ cơ sở để giải
quyết thì Kiểm sát viên yêu cầu Toà án bổ sung.
- Quá trình kiểm sát Kiểm sát viên cần
chú ý một số vấn đề sau:
+ Nghiên cứu kỹ đơn kiện và đối chiếu với các tài liệu
có liên quan để xác định tính hợp pháp của việc kiện; xác định tư cách của
người khởi kiện, người đại diện hoặc người được uỷ quyền, xác định bên bị kiện
thông qua tên, tuổi, địa chỉ, chữ ký của người kiện; xác định thời hiệu khởi
kiện còn hay hết thông qua ngày, tháng, năm khởi kiện, đối chiếu với các tài
liệu khác; đánh giá được tính hợp pháp trong các yêu cầu của nguyên đơn, xác
định ai là người bị kiện, ai là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
+ Nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn xuất
trình và Toà án xác minh thu thập để xác định tính hợp pháp của các tài liệu
chứng cứ, xem xét các diễn biến về quan điểm, yêu cầu của nguyên đơn, những
thay đổi về nội dung yêu cầu của người khởi kiện.
+ Nghiên cứu các tài liệu chứng cứ do bên bị kiện giải
trình và những tài liệu chứng cứ do Toà án xác minh thu thập để xác định tính
hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật
buộc thôi việc cán bộ, công chức bị khiếu kiện (xem xét thẩm quyền ban hành
quyết định hoặc thẩm quyền thực hiện hành vi bị khiếu kiện; xem xét những căn
cứ mà bên bị kiện dựa vào đó để ban hành quyết định hoặc thực hiện hành vi bị
khiếu kiện).
+ Nghiên cứu quan điểm của bên bị kiện về việc kiện
thông qua quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu và các tài liệu, chứng cứ mà
bên bị kiện dùng để bảo vệ quan điểm của mình.
+ Nghiên cứu những tài liệu, chứng cứ của những người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, thông qua việc đánh giá các tài liệu, chứng
cứ để xác định những ai là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, quan điểm
và yêu cầu hợp pháp của từng người. Kiểm sát viên phải lưu ý những thay đổi
trong yêu cầu của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vì những thay
đổi đó có thể dẫn đến sự thay đổi về bản chất vụ án.
3. Kiểm sát xét xử sơ
thẩm vụ án hành chính
3.1. Nghiên cứu hồ sơ vụ án
Khi nghiên cứu
hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên phải làm rõ những vấn đề sau:
3.1.1. Xem xét việc thực hiện các thủ tục tố tụng của Toà án
Kiểm sát viên
phải nghiên cứu kỹ thông báo thụ lý vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử,
quyết định áp dụng biện pháp thu thập chứng cứ, quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm thời (nếu có), quyết định trưng cầu giám định (nếu có), xem xét các
nội dung trong từng văn bản như ngày, tháng, năm ban hành, con dấu, chữ ký của
người có thẩm quyền ban hành…cùng tất cả các vấn đề tố tụng như: Thời hạn giải
quyết vụ án, thủ tục lấy lời khai của các đương sự…đều phải được kiểm tra, kết
luận có vi phạm tố tụng hay không (nếu có vi phạm thì phải thực hiện quyền kiến
nghị yêu cầu Toà án khắc phục, sửa chữa).
3.1.2. Xem xét toàn bộ nội dung vụ án
- Xác định tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện. Tính
hợp pháp của yêu cầu khởi kiện được thể hiện ở các điểm sau:
+ Tư cách pháp lý của người khởi kiện, người đại diện,
người được đương sự uỷ quyền tham gia tố tụng.
+ Thủ tục, điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều
28 Luật Tố tụng hành chính, các điều 31, 36, 39 Luật khiếu nại, tố cáo hoặc các
tài liệu chứng minh cho việc đương sự đã khiếu nại nhưng không được người có
thẩm quyền giải quyết khiếu nại trả lời, biên lai nộp dự phí, án phí và các tài
liệu liệu đương sự nộp cùng đơn khởi kiện.
+ Thời hiệu khởi kiện: Việc xác định thời hiệu khởi
kiện được thực hiện theo quy định theo quy định tại Điều 104 Luật TTHC.
+ Vụ việc đã được giải quyết bằng một bản án, quyết
định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hay chưa?
+ Khiếu kiện có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
theo quy định tại Điều 28 Luật TTTHC không?
- Xác định tính hợp pháp của quyết định hành chính,
hành vi hành chính bị khởi kiện:
+ Đối với quyết định hành chính bị khởi kiện, Kiểm sát
viên phải nghiên cứu chi tiết ngày, tháng, năm ban hành, thẩm quyền ký quyết
định, con dấu, chữ ký của người có thẩm quyền đối chiếu với các quy định của
pháp luật để xem xét văn bản đó có phù hợp với quy định của pháp luật hay
không?
+ Đối với hành vi hành chính bị khởi kiện, Kiểm sát
viên phải nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật quy định về nhiệm vụ công
vụ của cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành
chính nhà nước đang bị khởi kiện, để xác định hành vi hành chính đang bị khởi
kiện có phù hợp với quy định của pháp luật hay không?
- Xác định nội dung tranh chấp, quan hệ tranh chấp,
nội dung yêu cầu của những người tham gia tố tụng khác, xác định tính hợp pháp,
tính có căn cứ của các yêu cầu này. Việc xác định nội dung quan hệ tranh chấp
cũng đồng thời với việc xác định tư cách của người khởi kiện, người bị kiện,
người đại diện, người được uỷ quyền hoặc những người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan.
3.1.3. Đánh giá chứng cứ, xác định sự thật khách quan của vụ án
- Kiểm sát viên phải kiểm tra từng loại nguồn chứng cứ
và xác định nguồn chứng cứ, trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ theo đúng quy
định của pháp luật.
- Xác định chứng cứ có trong hồ sơ đã đầy đủ chưa?
Tiêu chuẩn để xem xét, đánh giá chứng cứ đã đầy đủ là chứng cứ đó đã đủ để
chứng minh cho cho yêu cầu của các đương sự tham gia vụ kiện chưa?
- Đối chiếu, phân tích các tài liệu, chứng cứ để làm
rõ rõ sự thật khách quan, bản chất trong quan điểm của từng đương sự và bản
chất của mâu thuẫn trong nội dung vụ án cần được giải quyết.
- Tập hợp, chuẩn bị những tài liệu, chứng cứ có giá
trị chứng minh để có quan điểm đúng về việc giải quyết vụ án.
3.1.4. Làm rõ các vấn đề về áp dụng pháp luật
- Xem xét nguyên nhân dẫn đến việc cơ quan hành chính
nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ra quyết định
hành chính (họăc thực hiện hành vi hành chính) đang bị khởi kiện; quyết định
hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện gây thiệt hại gì cho người khởi
kiện; các văn bản pháp luật nội dung điều chỉnh quan hệ pháp luật đang có tranh
chấp là những văn bản nào…
- Xác định yêu cầu khởi kiện có được chấp nhận hay
không, chấp nhận những vấn đề gì.
- Đánh giá chứng cứ, xác định sự thật khách quan của
yêu cầu khởi kiện trên cơ sở đối chiếu, phân tích các tài liệu, chứng cứ có
trong hồ sơ, nghiên cứu kỹ quan điểm của các chủ thể tham gia tố tụng (thông
qua bản trình bày quan điểm của họ và các lời khai do Toà án lập) để từ đó làm
rõ sự thật khách quan của quan hệ đang có tranh chấp, cũng như những mâu thuẫn
trong các lời trình bày, lời khai của các đương sự, trên cơ sở đó chuẩn bị lý
lẽ, căn cứ pháp lý để bảo vệ hoặc bác bỏ các tài liệu cũng như yêu cầu của các
đương sự.
3.2. Lập hồ sơ kiểm sát
- Hồ sơ kiểm sát phải bao gồm các tài liệu phản ánh
đầy đủ hoạt động tiến hành tố tụng của Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
và những người tham gia tố tụng khác. Hồ sơ kiểm sát được lập bắt đầu từ khi
Viện kiểm sát nhận được văn bản thông báo thụ lý vụ án của Toà án nhân dân và
kết thúc khi Kiểm sát viên hoàn thành việc kiểm sát bản án, quyết định do Toà
án cùng cấp gửi đến.
- Các tài liệu chứng cứ cần có trong
hồ sơ kiểm sát là:
+ Đơn khởi kiện của đương sự, biên lai thu dự phí án
phí sơ thẩm, quyết định hành chính bị khởi kiện (nếu đương sự khởi kiện hành vi
hành chính thì hành vi này phải được nêu trong đơn khởi kiện);
+ Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, lần hai
(nếu có), các tài liệu thể hiện việc đương sự đã khiếu nại nhưng không được
giải quyết, các tài liệu, chứng cứ do người bị khởi kiện cung cấp nhằm bác lại
yêu cầu khởi kiện cũng như các tài liệu chứng minh cho yêu cầu phản tố của họ,
các tài liệu do người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cung cấp…(những tài liệu
chứng cứ này cần được phô tô).
+ Trích lục những lời trình bày hoặc khai nhận của
những người tham gia tố tụng khác, nhưng phải bảo đảm tính đầy đủ, khách quan,
toàn diện.
3.3. Chuẩn bị đề cương để tham gia hỏi tại phiên toà
- Kiểm sát viên phải chuẩn bị câu hỏi cho từng đương
sự, từng vấn đề còn đang có mâu thuẫn, tranh chấp; có câu hỏi nhằm xác định giá
trị chứng minh của tài liệu, có câu hỏi nhằm làm rõ sự thật khách quan của nội
dung đang có tranh chấp.
- Câu hỏi mà Kiểm sát viên đưa ra phải ngắn gọn, rõ
ràng, dễ hiểu tập trung vào vấn đề cần làm sáng tỏ và phù hợp vào từng đối
tượng được hỏi.
3.4. Dự thảo quan điểm về việc giải quyết vụ án của Viện kiểm sát để trình
bày tại phiên toà
Theo quy định quy định tại khoản 1 Điều 160 Luật Tố tụng hành chính, tại
phiên tỏa sơ thẩm, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: “Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố
tụng hành chính kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử
nghị án”.
Như vậy, phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ
thẩm chỉ bị hạn chế đối với nhóm người tiến hành tố tụng (Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân), còn đối với nhóm người tham gia tố tụng thì không bị hạn chế. Vì
vậy, tại phiên tòa, Kiểm sát viên có thể vận dụng các quy định của pháp luật
để: hỏi các đương sự, người làm chứng, người phiên dịch…và kết hợp với việc
nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi tham gia phiên tòa để phát biểu ý kiến của
Viện kiểm sát đối với đối tượng khởi kiện vụ án hành chính (quyết định hành
chính, hành vi hành chính) và về tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết
định hành chính, hành vi hành chính ...
Dự thảo quan điểm về việc giải quyết vụ án của
Kiểm sát viên phải nêu được các vấn đề sau:
+ Loại việc có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
theo quy định tại Điều 28 Luật TTHC?
+ Việc thụ lý và giải quyết vụ án của Toà án đã đúng
với quy định tại các điều 29, 30 Luật TTHC chưa?
+ Người khởi kiện có phải là người bị thiệt hại do
quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính đang bị khởi kiện gây ra theo quy
định tại khoản 6 Điều 3 Luật TTHC không?
+ Đối tượng khởi kiện, điều kiện khởi kiện đã đầy đủ
theo quy định tại Điều 103 Luật TTHC?
+ Thời hiệu khởi kiện còn hay hết theo quy định tại
Điều 104 Luật TTHC?
- Dự thảo ý kiến được thông qua Lãnh đạo Viện trước
khi Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
3.5. Hoạt động của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm
- Kiểm tra
tư cách pháp lý của những người tiến hành tố tụng. Trường hợp phát hiện thấy
thành phần Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thuộc trường hợp phải từ chối tiến
hành tố tụng theo quy định tại các điều 41, 42, 44 Luật TTHC thì phải yêu cầu
Hội đồng xét xử quyết định thay đổi thành viên đó. Nếu Hội đồng xét xử không
chấp nhận yêu cầu của Kiểm sát viên về việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân
dân hoặc Thư ký phiên toà và vẫn tiến hành xét xử thì ngay sau phiên toà, Kiểm
sát viên phải báo cáo Lãnh đạo Viện cấp mình để xem xét việc kháng nghị, kiến
nghị.
- Căn cứ
các điều 131, 133, 134, 135 Luật TTHC, Kiểm sát viên kiểm tra tư cách pháp lý
của những người tham gia tố tụng. Trường hợp vụ án có sự tham gia của những
người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, người làm chứng, người giám
định, người phiên dịch mà họ vắng mặt thì Kiểm sát viên phải đề nghị Hội đồng
xét xử ra quyết định hoãn phiên toà theo quy định tại Điều 136 Luật TTHC. Nếu
Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên thì Kiểm sát viên vẫn
tiếp tục tham gia phiên toà, phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân
theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, nhưng ngay sau phiên
toà phải báo cáo với Lãnh đạo Viện kiểm sát cấp mình để xem xét việc kháng
nghị, kiến nghị.
- Kiểm sát
viên căn cứ quy định tại các điều 141, 142, 143, 148, 138, 161, 164 và 165 Luật
TTHC để kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên toà của Hội đồng
xét xử, Thư ký phiên toà và những người tham gia tố tụng từ khi bắt đầu đến khi
kết thúc phiên toà; thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng; thủ tục hỏi tại phiên toà; thủ tục tranh luận tại phiên toà; thủ tục nghị
án, tuyên án.
- Theo dõi
và ghi chép diễn biến phiên toà: Kiểm sát viên cần chú ý theo dõi và ghi chép
những câu hỏi của Hội đồng xét xử cũng như những câu trả lời của các đương sự,
đối chiếu, so sánh với các tài liệu chứng cứ cũng như lời khai, lời trình bày
của họ có trong hồ sơ vụ án, từ đó phát hiện những mâu thuẫn, vướng mắc để yêu
cầu Hội đồng xét xử làm sáng rõ hoặc để trực tiếp hỏi sau khi Hội đồng xét xử
hỏi xong.
- Kiểm sát
viên tham gia hỏi: Căn cứ khoản 2 Điều 148 Luật TTHC thì kiểm sát viên tham gia
hỏi các đương sự sau khi Hội đồng xét xử, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của đương sự, đương sự những gười tham gia tố tụng khác kết thúc. Kiểm sát
viên trực tiếp hỏi các đương sự, những người tham gia tố tụng các vấn đề chưa
được Hội đồng xét xử hỏi đến và các vấn đề chưa được làm sáng tỏ. Với những vấn
đề mới phát sinh tại phiên toà, Kiểm sát viên phải hỏi nhằm làm sáng tỏ sự thật
khách quan của vấn đề đó, đồng thời, phải đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ vụ án để nhanh chóng đưa ra quan điểm chấp nhận hay không chấp
nhận một tài liệu, một chứng cứ hoặc một vấn đề.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phải chủ động xử lý
những tình tiết mới phát sinh. Nếu tình tiết mới có đủ tài liệu căn cứ chứng
minh không cần xác minh thêm thì Kiểm sát viên phải có ý kiến về những vấn đề
này khi phát biểu quan điểm giải quyết vụ án. Trường hợp có tình tiết mới do
các đương sự đưa ra, nhưng chưa đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh, Kiểm sát
viên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa để thu thập chứng cứ bổ sung.
- Kiểm sát
viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát: Sau khi những người tham gia tố tụng
phát biểu tranh luận và đối đáp xong, theo đề nghị của Chủ toạ phiên toà, Kiểm
sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ án.
- Khi Chủ
toạ phiên toà tuyên án, Kiểm sát viên cần chú ý nghe và ghi chép nhanh phần
nhận định, những căn cứ pháp luật mà Hội đồng xét xử dựa vào đó để đưa ra quyết
định giải quyết vụ án để có cơ sở cho hoạt động kiểm sát bản án, quyết định của
Toà án sau phiên toà.
4. Hoạt động của Kiểm sát viên sau
phiên tòa
- Báo cáo
kết quả xét xử với Lãnh đạo Viện và Viện kiểm sát cấp trên. Nội dung báo cáo
phải nêu tính có căn cứ, hợp pháp (hay không hợp pháp) của quyết định của Hội
đồng xét xử sơ thẩm, quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án được
kiểm sát viên trình bày tại phiên toà.
- Nghiên cứu phần nhận định của Toà án trong bản án,
quyết định xem có phù hợp với các tình tiết của vụ án hay không? Toà án áp dụng
các văn bản pháp luật về nội dung để giải quyết vụ án đã phù hợp, đúng pháp
luật chưa? đối chiếu phần quyết định trong bản án, quyết định với phần ghi chép
của Kiểm sát viên cũng như ý kiến đề xuất về đường lối giải quyết vụ án của
Viện kiểm sát tại phiên toà để phát hiện vi phạm. Đề xuất với Lãnh đạo Viện xem
xét, quyết định việc kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm (hoặc báo cáo Viện kiểm
sát cấp trên xem xét kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm), chuẩn bị căn cứ pháp
luật, dự thảo văn bản kháng nghị (trong trường hợp ý kiến của Viện kiểm sát về
việc giải quyết vụ án không được Hội đồng xét xử chấp nhận).
Mai Văn Sinh – Trưởng
phòng 12